Loading images...
  • Thông báo khẩn cấp

    Thông báo khẩn cấp

    Yêu cầu quý thầy cô giáo chủ nhiệm các lớp trả hồ sơ, học bạ trong ngày 19.9.2014

  • Hướng dẫn họp phụ huynh đầu năm 2014-2015

    Hướng dẫn họp phụ huynh đầu năm 2014-2015

    Họp phụ huynh

  • Lịch trực 2 điểm trường của HT và PHT

    Lịch trực 2 điểm trường của HT và PHT

    Lịch trực điểm trường của HT và PHT

  • Thông tư 30/BGD&ĐT/2014

    Thông tư 30/BGD&ĐT/2014

    Thông tư 30/BGD về đánh giá học sinh tiểu học

  • Sơ đồ lớp học áp dụng từ ngày 15.9.2014

    Sơ đồ lớp học áp dụng từ ngày 15.9.2014

    Sơ đồ lớp học áp dụng từ ngày 15/9/2014

  • Kế hoạch tháng 9 năm học 2014-2015

    Kế hoạch tháng 9 năm học 2014-2015

    Kế hoạch tháng 9.2014

  • Thông báo khẩn cấp
  • Hướng dẫn họp phụ huynh đầu năm 2014-2015
  • Lịch trực 2 điểm trường của HT và PHT
  • Thông tư 30/BGD&ĐT/2014
  • Sơ đồ lớp học áp dụng từ ngày 15.9.2014
  • Kế hoạch tháng 9 năm học 2014-2015

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012-2013

Đăng lúc: Thứ tư - 27/03/2013 10:04 - Người đăng bài viết: Vũ Hồng Hà
CỔNG TRƯỜNG

CỔNG TRƯỜNG

Sáng kiến kinh nghiệm của nhiều thầy cô
Biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CB, GV, NV
ở trường Tiểu học Thị Trấn Đầm Dơi


 
1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
1.1. Cơ sở lí luận:
* Cơ sở giáo dục:
          - Tỉ lệ Hs yếu lưu ban và hoàn thành chương trinh bạc tiểu học của các năm trước luôn thấp, chất lượng mũi nhọn gần như không có mà nguyên nhân:
          - Về phía đội ngũ giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về phương pháp “Lấy học sinh làm trung tâm”.
          - Nhu cầu về kinh tế , mưu sinh được quan tâm nhiều hơn nhu cầu học tập “ Lo cái ăn trước rồi đến cái học”. Bên cạnh tệ nạn xã hội, những thói quen xấu vẫn tồn tại khá phổ biến và những bất cập khác.
          - Điều kiện về cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn và các cơ sở dạy học chắp vá...
* Cơ sở tâm lý:
- Một số gia đình PH chưa nắm rõ quan điểm giáo dục hiện nay, thái độ hợp tác giáo dục HS chưa rõ ràng, chưa thống nhất với nhà trường. giáo dục HS ở gia đình mang tính áp đặt, ít để HS được thể hiện quan điểm của mình, sử dụng mệnh lệnh, roi vọt, …và thiếu làm gương tốt cho HS noi theo.
          - Xây dựng được kế hoạch và thực hiện việc không ngừng nâng cao chất lượng chuyên môn trong nhà trường tạo động lực thúc đẩy lòng tin của học sinh, phụ huynh và tạo được uy tín, niềm tin với học sinh và nhân dân trong việc huy động và gửi gắm con em tới trường học tập.
2. Phạm vi triển khai thực hiện: Sáng kiến này được áp dụng và triển khai các trường tiểu học trong tỉnh Cà Mau.
          - Nghiên cứu hệ thống các kế hoạch, các biện pháp thực hiện trong quá trình triển khai công tác nâng cao chất lượng giảng dạy ở trường TH Thị Trấn Đầm Dơi.
          - Nghiên cứu, phân tích từ đó đưa ra các kế hoạch cụ thể để thực hiện với hiệu quả tốt nhằm minh chứng và các biện pháp nâng cao chất lượng chuyên môn trong nhà trường tiểu học.
3. Mô tả sáng kiến:
3.1. Cơ sở giáo dục:
          - Về phía đội ngũ giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về phương pháp “Lấy học sinh làm trung tâm”.
          - Nhu cầu về kinh tế , mưu sinh được quan tâm nhiều hơn nhu cầu học tập “ Lo cái ăn trước rồi đến cái học”. Bên cạnh tệ nạn xã hội, những thói quen xấu vẫn tồn tại khá phổ biến và những bất cập khác trong xã hội hiện nay.
          - Điều kiện về cơ sở vật chất còn khó khăn, thiếu thốn làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học của nhà trường...
3.2. Cơ sở tâm lí:
- Một số gia đình Phụ huynh chưa nắm rõ quan điểm giáo dục hiện nay, hợp tác giáo dục HS chưa rõ ràng, chưa thống nhất với nhà trường, giáo dục HS ở gia đình mang tính áp đặt, rập khuôn, ít để HS được thể hiện quan điểm của mình, sử dụng mệnh lệnh, roi vọt, …và chưa làm gương tốt cho HS noi theo.
          - Xây dựng được kế hoạch và thực hiện việc không ngừng nâng cao chất lượng chuyên môn trong nhà trường tạo động lực thúc đẩy lòng tin của học sinh, phụ huynh và tạo được giá trị, sứ mệnh, uy tín, niềm tin với học sinh và nhân dân trong việc huy động và gửi gắm con em tới trường học tập.
          3.3. Cơ sở thực tiễn:
          Việc quan tâm chăm sóc con em của một bộ phận Phụ huynh HS chưa đáp ứng với nhu cầu giáo dục hiện nay.
          - Còn một số phụ huynh là người dân tộc chưa chú trọng đến việc học tập của con em mình, với quan niệm:“ đến trường thì do các thầy cô dạy dỗ, giao phó hoàn toàn cho nhà trường”.
          - Dựa vào đặc điểm của đối tượng học sinh cũng như kết quả dạy và học trong năm học qua xây dựng kế hoạch, tìm hiểu, phân tích và thực hiện tháo gỡ những vướng mắc trong hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong nhà trường.
          3.4. Bảng thống kê kết quả học sinh yếu
Khối Học sinh Năm học 2011-2012
Số lượng %
1 288 29 10
2 331 15 4
3 311 25 8
4 286 28 9
5 289 25 8
Tổng 1505 122 8
          3.5. Phương pháp nghiên cứu:
          * Tăng cường về điều kiện cơ sở vật chất phục vụ dạy và học:
          - Trường lớp , thư viện thiết bị dạy học trong nhà trường rất quan trọng trong hoạt động dạy - học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở nhiều mặt cho cả thầy và trò.
          - Một trong những yếu tố đóng vai trò quyết định nâng cao chất lượng dạy và học là trang thiết bị và CSVC để phục vụ công tác dạy - học.
          - Từ  khi về nhận công tác quản lí tháng 01/2009 bản thân nhận thấy điều kiện cơ sở vật chất tuy đã có xong chưa đảm bảo yêu cầu như lớp học, phòng học chưa đảm bảo ánh sáng, trang trí chưa thẩm mỹ, khoa học, …. Tôi đã Tham mưu với lãnh đạo ngành, địa phương để đầu tư nâng cấp CSVC đã có đảm bảo đáp ứng được yêu cầu từ đó đội ngũ phấn khởi hăng say và có tinh thần trách nhiệm hơn trong công tác.
          - Phát huy nhiều nguồn lực tập trung phục vụ cho công tác dạy và học. Sử dụng triệt để nguồn kinh phí trong ngân sách và ngoài ngân sách. Ngoài ra phải kết hợp “nguồn lực “ từ phía PHHS và địa phương để xây dựng CSVC. VD : Vận động thêm từ PHHS hàng chục triệu đồng để trang bị thêm bục giảng, tủ lớp học trưng bày sản phẩm, khen thưởng đội ngũ,…
       3.6. Bồi dưỡng về nhận thức và chuyên môn cho đội ngũ:
          - Chất lượng chuyên môn phụ thuộc rất lớn vào tập thể sư phạm, yếu tố con người đóng vai trò quyết định mà các văn kiện của Đảng & Nhà nước điều nêu rõ trong chỉ thị 40/CT/TW ngày 15/06/2004 của Ban bí thư TW Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục. Người thầy giỏi về chuyên môn đồng thời lại phải tốt về nhân cách mới thực hiện hoàn hảo nhiệm vụ của mình, thực sự là những“ Kĩ sư tâm hồn “.
          - Mặt khác, nhận thức của đội ngũ cũng ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Mọi suy nghĩ đều dẫn dắt hành động của chúng ta, do đó nếu nhận thức đúng và “ thông “ thì vấn đề “ vận hành” đúng là chuyện tất nhiên   - Ví dụ : Trình bày cho đội ngũ về những sáng kiến kinh nghiệm của mình trước hội đồng sư phạm...
          * Bồi dưỡng về công tác chuyên môn:
          - Qua một số lần đi công tác tại các trường TH trong huyện,  tôi nhận thấy việc xây dựng đơn vị đi lên là trước hết cần tập trung nổ lực vào công tác chuyên môn. Tìm ra vấn đề để giải quyết yếu kém về chất lượng giảng dạy, để từ đó từng bước lấy uy tín với các cấp lãnh đạo và Phụ huynh.
          - Trước hết phải ổn định công tác nhân sự theo nguyên tắc quản lí như sắp xếp lớp học, bố trí nhận sự phải có trẻ có già & có người có kinh nghiệm lẫn thiếu kinh nghiệm xen kẻ, phân công đội ngũ GV phù hợp trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ...
          Đặt ra những yêu cầu đối với giáo viên phải đổi mới về phương phương giảng dạy và áp dung CNTT vào phương pháp giảng day HS, phải đổi mới về cách học thì mới nâng cao chất lượng dạy và học.
          * Tổ chức tiết dạy:
          - Đối với thầy:
          - Nghiên cứu kĩ bài và phân tích sư phạm  bài dạy cụ thể là:
          - Soạn kế hoạch lên lớp, xác định trọng tâm kĩ năng, kiến thức bài học và các hình thức tổ chức hoạt động trong tiết dạy thực hiện bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình từng môn học.
          - Chuẩn bị hệ thống câu hỏi: những nội dung khó , mục đích giải quyết ở lớp, ở nhà chú ý phát triển kiến thức bồi dưỡng học sinh giỏi, khá, năng khiếu bộ môn. Dự kiến những sai lầm của học sinh ( nếu có ) và cách khắc phục .
          - Khai thác, lồng ghép nội dung giáo dục tư tưởng tình cảm thẩm mĩ , dân số , môi trường giáo dục cho học sinh.
          - Chọn hình thức tổ chức tiết học phù hợp với điều kiện CSVC của lớp , phù hợp với nội dung bài dạy và môn dạy.
          - Để tổ chức tốt một tiết dạy phải tùy nội dung và mục đích cụ thể của bài dạy để xác nhận cách tổ chức học tập cho học sinh làm thế nào để có kết quả cao nhất.
          - Ví dụ : Nếu mục đích của bài dạy chủ yếu để rèn luyện kỉ năng hoặc kiểm tra kiến thức đã học thì mới coi trọng cách học cá nhân của học sinh.
          * Đối với học sinh.
          - Học sinh phải có kĩ luật tốt, lễ phép, ngoan ngoãn nghe lời thầy cô.
          - Học sinh phải có đầy đủ sách giáo khoa và dụng cụ học tập tại lớp...
          - Chuẩn bị công việc bên ngoài lớp, đưa ra những suy nghĩ nhận xét của mình khi quan sát để ra lớp thảo luận, trao đổi cùng các bạn.
          - Tập trả lời các câu hỏi theo sách giáo khoa...
          - Tự đặt câu hỏi sau khi đã đọc trước bài.
          - Khuyến khích các em tham gia các hoạt động phong trào mang tính giáo dục cộng đồng và tham gia các hoạt động về nguồn, ngoại khoá ; vừa giúp thầy trò thư giãn và tạo sự gần gũi, đoàn kết.
          3.7.  Phối hợp Ban đại diện Cha mẹ học sinh để giáo dục học sinh:
        - Ban đại diện cha mẹ học sinh là tổ chức quần chúng của các gia đình học sinh. Đây là tổ chức có quan hệ mật thiết với nhà trường, có tiềm năng lớn trong việc giáo dục HS vì 2/3 thời gian HS ở với gia đình. Là cầu nối các gia đình học sinh lại với nhau để thống nhất mục tiêu giáo dục.
       - Việc Ban ĐDCMHS hoạt động tích cực trong nhà trường cũng góp phần nâng chất lượng giáo dục trong nhà trường. Nhà trường luôn xây dựng mối quan hệ gần gũi với mỗi gia đình học sinh như: tổ chức họp phụ huynh để làm công tác tuyên truyền thông tin và thu thập thông tin...
                   4. Kết quả sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
KHỐI SỐ LƯỢNG HỌC SINH YẾU
Học kỳ I năm học  2012-2013
 
 
 
TS.HS
 
SỐ LƯỢNG %
1 270 22 8
2 264 9 3
3 330 21 6
4 317 23 7
5 298 20 6
TỔNG:  1479 95 6
          Nhận thức tầm quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học đối với  việc nâng cao chất chất lượng giảng dạy ở trường TH học Thị Trấn. Thực hiện chủ trương đổi mới phương pháp giảng dạy trên tòan huyện nói chung và trường TH Thị Trấn Đầm Dơi nói riêng đang thực hiện chủ trương cải tiến phương pháp dạy học hết sức mạnh mẽ là nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy. Với đề tài này tôi mạnh dạn đổi mới các hình thức tổ chức trong qúa trình tổ chức hoạt động sư phạm nhằm tăng hưng phấn cho đội ngũ, tránh sự nhàm chán từ đó động viên khuyến khích, đặt ra yêu cầu mới và sáng tạo không ngừng trong công tác giảng dạy ở trường tiểu học Thị Trấn Đầm Dơi hiện nay.
         
          5.  Những đề xuất, kiến nghị
- Đầu tư nghiên cứu các hoạt động, hình thức, phương pháp dạy và học cho phù hợp đối tượng học sinh vùng miền.
          - Tham khảo học tập và trao đổi với các trường trên địa bàn.
          Trên đây là các biện pháp thực hiện và hiệu quả trong quá trình thực hiện đề tài sáng kiến kinh nghiệm trong năm học 2012-2013. Tôi mong được sự góp ý bổ sung những kinh nghiệm quý báu các bạn đồng nghiệp để tôi có được thêm những kinh nghiệm của mình, tạo thêm cho bề dày kinh nghiệm cho bản thân góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy ở trường TH Thị Trấn nói riêng và các trường tiểu học trong toàn huyện nói chung. Rất mong nhận được sự đóng góp của Hội đồng chấm sáng kiến kinh nghiệm cấp huyện cũng như cấp tỉnh.
                                                              
    
                                                       Người viết sáng kiến
                                                         Nguyễn Tiến Dũng

   

                   
MỘT SỐ BIỆN PHÁP VỀ CÔNG TÁC CHĂM SÓC SƯC KHỎE BAN ĐẦU CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN ĐẦM DƠI

 Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ban đầu cho học sinh là một nhiệm vụ rất quan trọng vì thế hệ trẻ hôm nay và tương lai đất nước mai sau. Được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước, trong những năm gần đây ngành Y tế và Giáo dục đã có nhiều cố gắng trong việc phối hợp chỉ đạo, xây dựng mạng lưới y tế trường học. Nhờ đó hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe sức học sinh đã có những bước cải thiện và đạt được những kết quả khả quan. Tuy vậy công tác y tế trường học vẫn còn gặp không ít khó khăn do nhân lực tại các trường học còn thiếu hoặc chưa đáp ứng đầy đủ về chuyên môn, nghiệp vụ. Một mặt do cán bộ y tế chưa được đào tạo, tập huấn chuyên sâu về chuyên môn y tế trường học, mặt khác do điều kiện thực tế tại các trường học còn thiếu thốn về cơ sơ vật chất chính vì vậy mà việc triển khai thực hiện công tác y tế trường học chưa đạt được kết quả cao.
Dựa trên những điều kiện thực tế trên, tôi đóng góp một vài ý kiến nhằm  phát huy hiệu quả những gì đã đạt được giúp công tác y tế trường học ngày càng phát triển.
I. Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
Chăm sóc sức khỏe cho học sinh là một vấn đề cần thiết hiện nay. Có được sức khỏe tốt sẽ giúp các em học tập tốt. Chăm sóc sức khỏe ban đầu đạt hiệu quả tốt là mục tiêu quan trọng trong công tác giáo dục toàn diện học sinh trong trường học. Việc giáo dục và bảo vệ sức khỏe cho các em học sinh hiện nay cũng là mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước, của mỗi gia đình và toàn xã hội. Vì vậy tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp về công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu của trường Tiểu học Thị trấn Đầm Dơi” làm vấn đề nghiên sáng kiến kinh nghiệm của mình.
2. Mục đích:
Khi viết sáng kiến kinh nghiệm này, tôi mong được đóng góp ý kiến của mình về công tác y tế trường học giúp cho việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho học sinh được tốt hơn. Qua đó giúp các em học sinh có sức khỏe để học tập tốt.
3. Cơ sở nghiên cứu:
- Dựa trên điều kiện thực tế của nhà trường.
- Dựa vào các tài liệu tham khảo về công tác y tế trường học.
- Dựa vào một số ý kiến đóng góp của đồng nghiệp.
4. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng là học sinh từ lớp 1 đến lớp 5, Trường Tiểu học Thị Trấn Đầm Dơi.
II. THỰC TRẠNG
1. Thuận lợi:
- Được sự quan tâm và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường.
- Có cán bộ y tế được trang bị đầy đủ kiến thức về chuyên môn.
- Có sự phối hợp nhiệt tình của cán bộ giáo viên trong nhà trường trong các hoạt động y tế.
2. Khó khăn:
- Kinh phí dành cho hoạt động y tế học đường còn hạn chế.
- Đơn vị chưa có phòng dành riêng cho hoạt động y tế học đường.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phòng y tế còn thiếu thốn.
III. NỘI DUNG
1. Về công tác tổ chức:
Thành lập Ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe trường học:
- Trưởng ban: Hiệu trưởng nhà trường
- Phó ban: Phó Hiệu trưởng nhà trường
- Thường trực: Cán bộ y tế trường học
- Ủy viên: TPT Đội, Trạm y tế Thị Trấn Đầm Dơi, Ban đại diện CMHS.
Ban sức khỏe có nhiệm vụ:
- Giải quyết các trường hợp sơ cứu, xử lý ban đầu các bệnh thông thường.
- Tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho học sinh.
- Tổ chức thực hiện các chương trình bảo vệ và chăm sóc sức khỏe do ngành y tế và giáo dục triển khai hàng năm.
- Tuyên truyền phòng chống dịch bệnh. Kiểm tra xây dựng trường học xanh, sạch, đẹp và đảm bảo vệ sinh ATTP.
2. Về cơ sở vật chất, trang thiết bị:
Tủ thuốc y tế nhà trường được trang bị đầy đủ các loại thuốc để giải quyết kịp thời các bệnh thông thường và sơ cấp cứu ban đầu những tai nạn xảy ra trong thời gian học sinh tham gia các hoạt động tại trường.
Ngoài ra, nhà trường còn lắp đặt máy lọc nước tiệt trùng đảm bảo cung cấp đầy đủ nước sạch cho học sinh toàn trường.
Phòng y tế là nơi thực hiện các hoạt động chăm sóc và nâng cao chất lượng sức khỏe cho học sinh chính vì vậy cần phải được xây dựng và đảm bảo sạch sẽ, thoáng mát.
3. Về công tác tuyên truyền, vận động học sinh:
Thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe học sinh theo kế hoạch năm học.
- Tổ chức các buổi tuyên truyền giáo dục sức khỏe vào các giờ chào cờ thứ 2 hàng tuần. Tuyên truyền phòng chống các dịch bệnh theo mùa như: Bệnh sốt XH, bệnh Tay-Chân-Miệng, phòng chống các bệnh học đường: cận thị, gù vẹo cột sống. Qua các buổi tuyên truyền giúp các em học sinh hiểu được nguyên nhân, triệu chứng và cách phòng chống dịch bệnh.
- Phát tờ cam kết gia đình không có Lăng quăng không có sốt xuất huyết đến hộ gia đình của từng học sinh và thu lại lưu tại đơn vị. Ngoài ra, còn vận động học sinh diệt Lăng quăng khu vực xung quanh nhà ở, cơ quan, khu vực căn tin với phương châm “mỗi học sinh là một tuyên truyền viên tích cực trong việc phòng chống bệnh sốt xuất huyết”.
- Vận động học sinh tham gia bảo hiểm y tế 100% . Tuyên tuyền sâu rộng tới toàn thể các em học sinh và gia đình các em về lợi ích của việc tham gia bảo hiểm y tế toàn dân.
4. Về công tác khám sức khỏe định kỳ:
Phối hợp chặt chẽ với trạm y tế Thị trấn để tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho học sinh ít nhất một lần trong một năm học, ưu tiên các học sinh đầu cấp và cuối cấp học.
Phát hiện và thông báo các trường hợp mắc bệnh về gia đình để có biện pháp giải quyết điều trị kịp thời.
Trạm y tế thị trấn có nhiệm vụ quản lý, lưu trữ hồ sơ khám sức khỏe của học sinh và có trách nhiệm chuyển hồ sơ khi học sinh chuyển trường hay kết thúc chương trình của cấp học để đảm bảo cho việc quản lý theo dõi sức khỏe cho các em được tốt hơn.
5. Về công tác nha học đường:
Tổ chức cho toàn thể các em học sinh súc miệng nước Fluor 1tuần/lần ở điểm trường K1.
Tổ chức khám răng định kỳ cho học sinh. Khám lồng ghép với đợt khám sức khỏe đầu năm. Phát hiện và điều trị kịp thời các bệnh răng miệng: sâu răng, viêm lợi và có kế hoạch điều trị các trường hợp đơn giản như: Viêm lợi răng, sưng nướu răng. Chuyển tuyến trên điều trị những trường hợp khó như: Trám răng, lỗ sâu đã chạm tủy, viêm tủy…vv.
Tuyền truyền giáo dục nha khoa, dạy cho học sinh cách phòng bệnh răng miệng, bỏ các thói quen xấu ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe răng miệng. Hướng dẫn cho học sinh cách chải răng đúng phương pháp.
6. Về công tác phòng dịch:
          Thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh, tiêm chủng theo hướng dẫn của cơ quan y tế và ban chăm sóc sức khỏe ban đầu cấp trên.
          - Thực hiện kế hoạch phòng chống dịch bệnh của TTYT dự phòng, phối hợp với trạm y tế Thị Trấn triển khai các chương trình tiêm chủng, tẩy giun trong trường học.
          - Hướng dẫn các em học sinh giữ vệ sinh cá nhân phòng chống bệnh dịch.
          7. Về vệ sinh học đường:
Cán bộ Y tế trường học tham mưu cho lãnh đạo nhà trường thực hiện các yêu cầu về vệ sinh học đường, vệ sinh ATTP, thực hiện phong trào xanh - sạch - đẹp”.
- Tổ chức các buổi tổng vệ sinh trong trường học, hướng dẫn các em học sinh đổ rác đúng nơi quy định.
- Tổ chức trồng hoa và cây xanh trong nhà trường.
- Lớp học phải đảm bảo đủ ánh sáng, ấm áp về mùa đông và thoáng mát về mùa hè. Bàn ghế cho học sinh ngồi học phải đảm bảo đúng quy cách, đúng kích thước theo từng lứa tuổi, bảng và phấn viết hợp vệ sinh.
- Công trình vệ sinh phải đảm bảo sạch sẽ, luôn được lau rửa thường xuyên, hệ thống cống rãnh thoát nước tốt.
- Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và nước uống trong nhà trường. Hướng dẫn các em học sinh thực hiện ăn chín, uống chín và rửa tay trước khi ăn, ăn phải đảm bảo đủ no, chủ chất.
IV. Kết quả
Do nắm được vai trò quan trọng về vấn đề sức khỏe của học sinh nên những việc làm trên đã được triển khai thường xuyên. Dựa trên tiêu chuẩn đánh giá sức khỏe cho thấy tình hình sức khỏe của các em ngày được nâng cao, tỷ lệ học sinh nghỉ học do bệnh tật giảm đáng kể so với đầu năm học.
Nhờ công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe được tiến hành thường xuyên, cùng với việc phối hợp thực hiện tốt công tác phòng dịch nên đã kiểm soát tốt không để dịch bệnh lây lan trong trường học.
Tuy còn thiếu thốn về trang thiết bị y tế nhưng vẫn đảm bảo việc sơ cấp cứu ban đầu và xử lý kịp thời các bệnh học thông thường giúp các em học sinh có được sức khỏe tốt để học tập.
Thực hiện đầy đủ, đúng lịch các chương trình tiêm chủng và tẩy giun định kỳ cho học sinh toàn trường.
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Đối với một cán bộ y tế trong nhà trường đòi hỏi đầu tiên theo tôi đó là sự tận tâm, nhiệt tình, yêu nghề. Trong các hoạt động tại trường học phải luôn tạo dựng niềm tin cho bản thân mình cũng như cho học sinh và các bậc phụ huynh.
Thường xuyên rèn luyện, phấn đấu, không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về y tế trường học để đáp ứng tốt nhu cầu sức khỏe của các em học sinh.
VI. Kết luận
Trên đây là một số suy nghĩ và những biện pháp mà tôi áp dụng trong công tác chăm sóc sức khỏe cho học sinh.
Qua quá trình công tác bản thân đã rút ra được nhiều kinh nghiệm, từng bước khắc phục những khó khăn, tồn tại để phát triển công tác y tế trường học tốt hơn.
Y tế trường học ngày nay đang được ngành Y tế và Giáo dục quan tâm. Bản thân tôi nhận thấy nếu mỗi cán bộ y tế học đường luôn có ý thức rèn luyện và tận tình với công việc thì chắc chắn việc tạo dựng một nền tảng sức khỏe cho các em học sinh vững bước trên con đường học tập là không khó. Có được sức khỏe tốt giúp các em học tập đạt kết quả cao để sau này trở thành người có ích cho xã hội, là chủ nhân tương lai của đất nước.
VII. Ý kiến đề xuất
Để nâng cao sức khỏe cho học sinh tôi xin có một vài ý kiến đề xuất như sau:
- Y tế trường học cần được sự quan tâm chỉ đạo hơn nữa của nhà trường và lãnh đạo cấp trên, đặc biệt là sự chỉ đạo thường xuyên của Ban chăm sóc sức khỏe trường học để giúp cho hoạt động y tế trường học phát triển đi lên.
- Có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa Đoàn, Đội, giáo viên chủ nhiệm và phòng y tế nhà trường để giúp công tác chăm sóc sức khỏe cho học sinh được thuận lợi hơn.
- Tổ chức các buổi họp Ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe trường học để rút kinh nghiệm, bổ sung những thiếu sót và đề ra các phương pháp thực hiện cụ thể.
- Cần bố trí phòng y tế riêng và được trang bị đầy đủ thiết bị, dụng cụ y tế.
Trên đây là một vài ý kiến tôi mạnh dạn đưa ra. Tôi rất mong có sự bổ sung, góp ý của Ban giám hiệu nhà trường, các đồng chí giáo viên trong tổ và trong nhà trường.
                                                              Thị Trấn, ngày 30  tháng 10 năm 2011
                                                                                Người thực hiện
 
                                                                                Mai Mimh Cảnh


MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TRONG BAN CHỈ HUY LIÊN ĐỘI
 
A. PHẦN MỞ ĐẦU
 

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Muốn có phong trào hoạt động tốt thì trước hết cần có con người lãnh chỉ đạo phong trào có đầy đủ năng lực và nhiệt tình. Vì vậy, để có công tác Đội trong nhà trường Tiểu học hoạt động tốt thì cần có Giáo viên – Tổng phụ trách đội năng nổ nhiệt tình và Ban chỉ huy Liên đội hoạt động tốt.
Công tác đội trong nhà trường Tiểu học là một bộ phận không thể thiếu được trong các hoạt động của nhà trường. Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh là lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, là lực lượng dự bị của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, lực lượng nồng cốt trong các phong trào thiếu nhi. Đội hoạt động trong nhà trường và trên địa bàn dân cư. Đội lấy 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng làm mục tiêu phấn đấu rèn luyện cho đội viên, giúp đỡ thiếu nhi trong học tập, hoạt động vui chơi; thực hiện quyền và bổn phận theo Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh với mục đích tập hợp, giáo dục thiếu nhi trở thành con ngoan, trò giỏi, đội viên tốt, trở thành người công dân có ích trong tương lai. Việc giáo dục đội viên là nhiệm vụ chủ yếu, trực tiếp của tổ chức Đội. Muốn làm tốt nhiệm vụ của mình, người phụ trách Đội phải biết một cách sâu sắc về Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, về các hoạt động mang tính giáo dục của Đội. Biết tổ chức, quản lý và điều hành công tác Đội trong phạm vi nhà trường. Tổ chức quản lý bộ máy công tác Đội, quản lý đội ngũ cán bộ phụ trách các Chi đội, sao Nhi đồng và lực lượng chỉ huy Đội.
Muốn Liên đội hoạt động tốt, tham gia tích cực các hoạt động Đội trong nhà trường thì cần phải có một bộ máy Ban chỉ huy Liên đội vững chắc về mọi mặt như: Quản lý, kỹ năng nghiệp vụ công tác Đội... Thành công của Liên đội trong đó có một phần đóng góp của Ban chỉ huy. Bởi vậy, bản thân tôi mạnh dạn đưa ra “Một số biện pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong Ban chỉ huy Liên đội” mà tôi đã thực hiện trong học kỳ I năm học 2011-2012.
 
II. TÌNH HÌNH CỦA LIÊN ĐỘI.
1. Số liệu:
Tổng số học sinh toàn trường: 1521em.  Trong đó: Đội viên: 585 em.
          Nhi đồng: 936 em. Tổng số Chi đội: 21 chi đội. Tổng số Sao Nhi đồng: 17 sao. Trường có 2 điểm trường nằm trên Thị Trấn Đầm Dơi: điểm trường khóm I có 14 lớp với 499 em; điểm trường khóm IV với 24 lớp có 1022 em. Trong tổng số có 181 em học sinh có hoàn cảnh nghèo, gia đình khó khăn.
2. Thuận lợi:
- Phần lớn các đội viên và nhi đồng tích cực nhiệt tình tham gia công tác Đội.
- Được sự quan tâm của Ban lãnh đạo nhà trường, các đoàn thể và sự nhiệt tình của các anh chị phụ trách là những giáo viên chủ nhiệm. Sự quan tâm của Ban đại diện Cha mẹ học sinh trường.
- Sự quan tâm chỉ đạo của Hội đồng đội huyện Đầm Dơi, Hội đồng đội Thị Trấn Đầm Dơi, cùng với sự lãnh chỉ đạo của Chi bộ nhà trường, sự quan tâm giúp đỡ của Ban đại diện cha mẹ học sinh.
3. Khó khăn:
- Trường có 2 điểm trường, trong đó điểm trường khóm IV lại học nhờ cơ sở của trường Trung học cơ sở Dương Thị Cẩm Vân Thị Trấn Đầm Dơi nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động của Đội.
- Đội ngũ cán bộ của Ban chỉ huy Liên đội không được bồi dưỡng thường xuyên, hoạt động không đều tay. Phần lớn các em đang còn rụt rè, thiếu mạnh dạn khi thực hiện nhiệm vụ của mình.
III. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI.
- Tìm hiểu nguyên nhân cơ bản trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động của Ban chỉ huy Liên đội.
- Đưa ra những biện pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng hoạt động công tác Đội trong nhà trường.
IV. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
1. Phạm vi: Liên đội trường Tiểu học Thị Trấn Đầm Dơi năm học 2011-2012.
2. Đối tượng: Các em trong Ban chỉ huy Liên đội.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Tìm hiểu thực trạng hiện tại của Liên đội trước khi thực hiện đề tài.
- Đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm khắc phục thực trạng trên.
 
B. THỰC TRẠNG CỦA LIÊN ĐỘI KHI CHƯA TIẾN HÀNH ĐỀ TÀI:
Đầu năm học 2011-2012, thực hiện kế hoạch của Hội đồng đội huyện Đầm Dơi, Liên đội đã tổ chức Đại hội và đã bầu ra được Ban chỉ huy Liên đội chung cho cả 02 điểm trường. Song, các hoạt động còn mang tính chất chung chung, Ban chỉ huy Liên đội chưa phát huy hết năng lực, chưa sáng tạo trong công việc nên chất lượng hoạt động chưa cao. Tình hình nề nếp còn lộn xộn, chưa vào khuôn khổ. Ý thức tự quản của các Chi đội và đội viên chưa đáp ứng được yêu cầu chung của Liên đội. Vệ sinh các nhân và vệ sinh công cộng còn hạn chế. Công tác Sao Nhi đồng chưa thực hiện được, chưa thống nhất được quy trình. Phong trào hoạt động bề nổi của Liên đội chưa có những bước phát triển mới.
 
C. NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.
Để có sự thành công của các hoạt động đội, nhân tố quyết định là phải xây dựng Liên đội vững mạnh, thực hiện tốt các hoạt động của Liên đội đó chính là những đội viên ưu tú của Ban chỉ huy Liên đội. Tuy nhiên, các đội viên ở tuổi thiếu niên chưa có kinh nghiệm trong cuộc sống, học tập và rèn luyện, nhận thức cảm tính đôi khi còn lấn át nhận thức lý tính, đặc biệt còn thiếu hiểu biết trong lĩnh vực chính trị và xã hội. Vì vậy, các em rất cần sự hướng dẫn, giúp đỡ của người lớn nói chung và của Tổng phụ trách Đội nói riêng.
Trước tình hình đó, vào đầu năm học, dưới sự chỉ đạo của Hội đồng đội huyện Đầm Dơi, cùng với sự lãnh chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường, bản thân tôi đã tiến hành tổ chức Đại hội Liên đội và bầu ra Ban chỉ huy Liên đội gồm các đội viên tiêu biểu, được các đại biểu tín nhiệm để điều khiển công việc của Liên đội, thực hiện vai trò tự quản của Liên đội dưới sự hướng dẫn của Tổng phụ trách Đội.
Trong việc chọn lựa các đội viên đứng vào hàng ngũ Ban chỉ huy Liên đội, tôi đặc biệt chú trọng đến khả năng hoạt động Đội của từng em, không chú trọng đến các em nữ, các em “dễ bảo” hoặc các em lớn tuổi. Thông qua các hoạt động Đội để chọn các em vừa có đủ năng lực hoạt động, có đủ uy tín với bạn bè. Cần chú trọng đến địa bàn sinh hoạt của các em. Số lượng thành viên trong Ban chỉ huy Liên đội phải được chia đều ở các khu vực của trường.
Qua Đại hội Liên đội đã bầu ra Ban chỉ huy Liên đội gồm các thành viên sau:
1. Mạch Lê Dung Nhi      - Chi đội lớp 5A2       
2. Đặng Tiểu Bình                     - Chi đội lớp 5A2
3. Nguyễn Thị Linh          - Chi đội lớp 5A1
4. Hoàng Tuấn Anh         - Chi đội lớp 5A3         
5. Đặng Phương Mai       - Chi đội lớp 4A1
6. Mai Thảo Ngân           - Chi đội lớp 4A2
7. Ngô Huỳnh Thy Anh   - Chi đội lớp 4A7
Sau khi bầu ra Ban chỉ huy Liên đội tôi đã tiến hành mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Đội cho các em. Hướng dẫn các em cách ghi chép văn bản, quản lý sổ sách, tổ chức họp Ban chỉ huy, điều khiển sinh hoạt Liên đội, tổ chức các hoạt động Đội, nghi thức Đội và các thủ tục nghi lễ khác... Phân công cụ thể từng công việc cho các thành viên để các em có ý thức trong công việc của mình.
Cụ thể với Ban chỉ huy Liên đội đã được phân công như sau:
1. Mạch Lê Dung Nhi      - Chi đội lớp 5A2 – Liên đội trưởng        
2. Đặng Tiểu Bình                     - Chi đội lớp 5A2 – Liên đội phó
3. Nguyễn Thị Linh          - Chi đội lớp 5A1 – Liên đội phó
4. Hoàng Tuấn Anh         - Chi đội lớp 5A3 – Uỷ viên            
5. Đặng Phương Mai       - Chi đội lớp 4A1 – Uỷ viên
6. Mai Thảo Ngân           - Chi đội lớp 4A2 – Uỷ viên
7. Ngô Huỳnh Thy Anh   - Chi đội lớp 4A7 – Uỷ viên
Với từng công việc cụ thể, tôi đã tiến hành tập huấn cho các mảng như sau:
- Với công tác tuyên truyền măng non: Tôi đã tiến hành thành lập Đội tuyên truyền Măng non với 03 thành viên do Nguyễn Thị Linh - Liên đội phó phụ trách. Lưu ý: Khi chọn các em vào đội tuyên truyền thì cần chọn những em có giọng đọc tốt, trôi chảy và diễn cảm.
Công việc của Đội tuyên truyền Măng non có nhiệm vụ phát thanh tuyên truyền nhân các ngày lễ lớn trong tháng tuỳ theo từng chủ điểm để giáo dục đội viên, nhi đồng truyền thống của quê hương, đất nước, dân tộc.
Trong học kỳ I vừa qua Đội tuyên truyền Măng non đã thực hiện có hiệu quả công tác phát thanh, tuyên truyền chào mừng các ngày lễ lớn trong từng tháng. Công việc này diễn ra một cách tự giác, thường xuyên. Cụ thể, đã phát thanh được 07 đợt/học kỳ (Mỗi đợt 05 buổi).
- Với công tác phụ trách Sao Nhi đồng:
+ Thành lập đội phụ trách Sao cho các lớp 1, 2 do các đội viên khối 5 phụ trách.
+ Tiến hành tập huấn nội dung và quy trình sinh hoạt Sao cho các em đội viên khối 5.
+ Tổ chức sinh hoạt sao điểm tại lớp 1A1, có đánh giá và rút kinh nghiệm.
+ Tiến hành tổ chức sinh hoạt đại trà trên toàn khối 1, 2.
Với quy trình thực hiện trên, trong học kỳ I vừa qua công tác phụ trách Sao được thực hiện tốt và duy trì một cách đều đặn. Các em khối 1,2 đã nắm chắc các bước sinh hoạt Sao và nắm vững các nội dung trong chương trình Dự bị đội viên. Qua kiểm tra, tỷ lệ đạt yêu cầu khá cao: 89%.
- Với công tác lao động:
Tôi hướng dẫn cho các em cách quản lý trường lớp sạch sẽ bằng cách lập Đội cờ đỏ thường xuyên kiểm tra vệ sinh lớp học và sân trường, thực hiện môi trường Xanh-Sạch-Đẹp. Công tác chăm sóc công trình măng non năm học 2011-2012 được chú trọng, thường xuyên tưới nước, nhổ cỏ cho các bồn hoa... ở tất cả các khu vực.
Với sự phân công cụ thể như trên, các em trong Ban chỉ huy Liên đội đã tự giác thực hiện công việc của mình, tạo cho phong trào của Liên đội được đi vào chiều sâu, khuôn khổ, tạo cho các em có không khí làm việc thoải mái. Đặc biệt các em đã thể hiện được tính tích cực, tự giác, tự quản, tự chủ trong công việc, đã tập dượt cho các em thực hành dân chủ, có thói quen xử lý mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, quyền lợi và nghĩa vụ.
Trong quá trình làm việc tôi có thể gặp gỡ riêng từng em trong Ban chỉ huy để kịp thời động viên khích lệ những cố gắng của từng em, tạo điều kiện để mỗi em phát huy tốt nhất thế mạnh của mình và góp ý chân thành về những hạn chế thiếu sót có thể có. Từ đó giúp mỗi em dần dần tiến bộ, trưởng thành. Điều quan trọng là không bao giờ làm mất tính tự chủ, đức tự tin trong các em.
 
D. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Từ những nội dung nghiên cứu và kết quả cho thấy trên bản thân tôi nhận thấy rằng: Muốn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong Ban chỉ huy Liên đội của nhà trường chúng ta cần phải:
- Chọn các đội viên có đủ uy tín, năng lực công tác đội vào Ban chỉ huy Liên đội.
- Phân công cụ thể từng công việc cho các em tuỳ theo khả năng.
- Tổ chức mở lớp tập huấn công tác đội cho Ban chỉ huy Liên đội và tập huấn từng công việc cụ thể do các em phụ trách.
- Giao trách nhiệm công việc cho từng em chỉ huy. Giáo viên – Tổng phụ trách đội có nhiệm vụ giám sát, hướng dẫn thêm và đánh giá công việc của các em.
- Biết nắm bắt tâm tư nguyện vọng của các em, biết động viên khích lệ, tạo điều kiện để các em phát huy hết thế mạnh trong công việc của mình. Góp ý những hạn chế thiếu sót của các em trong quá trình làm việc.
- Tạo điều kiện để các em sáng tạo trong khi làm việc, không áp đặt theo khuôn mẫu. Phát huy tín dân chủ trong mỗi em, giúp các em hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
- Duy trì các buổi họp định kì hàng tuần, hàng tháng, các buổi sinh hoạt tập thể để các em bày tỏ ý kiến của mình, những vướng mắc trong công việc, giúp các em có hướng giải quyết.
Trên đây là một số kinh nghiệm tôi đã thực hiện trong quá trình làm việc với mục đích nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Ban chỉ huy Liên đội trong học kì I vừa qua.
 
E. PHẦN KẾT THÚC:
Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh là một tổ chức chính trị xã hội của thiếu nhi, có tôn chỉ mục đích rõ ràng, có điều lệ tổ chức và hoạt động cụ thể. Vì thế Tổng phụ trách - người chỉ huy, lãnh đạo cao nhất của trường Tiểu học về công tác Đội cần có phương hướng hoạt động và phương pháp công tác đặc thù của Đội để tổ chức cho hoạt động Đội trong nhà trường ngày càng đi lên.
Hỗ trợ cho Tổng phụ trách hoàn thành tốt công tác của mình không ai khác đó là đội ngũ cốt cán của Ban chỉ huy Liên đội. Thông qua Ban chỉ huy Liên đội tổng phụ trách phải hình thành sự hợp tác, gắn bó tinh thần cộng đồng trách nhiệm vì công việc chung. Phải hiểu rõ năng lực, phẩm chất, sở trường, năng khiếu, thế mạnh và hạn chế của từng em, tạo mọi điều kiện cần thiết để các em tự thể hiện, tự khẳng định mình trong học tập và công tác Đội, tạo uy tín cho các em trong tập thể và trong tổ chức. Đó chính là cơ sở để phát huy vai trò tự quản, tính độc lập sáng tạo trong công tác giúp các em hoàn thành tốt công việc của Liên đội giao cho và đưa phong trào của Liên đội ngày càng đi lên.
Trên đây là toàn bộ đề tài mà tôi áp dụng thực hiện đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cốt cán trong phong trào đội ở nhà trường trong thời gian qua. Tuy nhiên công việc đặt ra còn nhiều, năng lực công tác đội của bản thân còn nhiều hạn chế nên đề tài sẽ còn có nhiều thiếu sót mong các đồng chí đóng góp ý kiến để cho đề tài hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
                                                              Đầm Dơi, ngày 3 tháng 12 năm 2011
                                                                            Người thực hiện
                                                                                 Vũ Hồng Hà


RÈN LUYỆN KỸ NĂNG CẢM THỤ ÂM NHẠC
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Âm nhạc là một nhu cầu trong đời sống tinh thần của trẻ. Trẻ em tham gia ca hát là được tự hoạt động để nhận thức thế giới xung quanh và bản thân mình. Bằng ngôn ngữ đặc thù của mình như; giai điệu, nhịp điệu, tính chất chặt chẽ về tiết tấu, sự hài hoà về âm thanh giúp học sinh mở rộng tầm hiểu biết phong phú thêm về kinh nghiệm sống, mang lại cảm giác xúc động về thẩm mỹ mới mẻ, mạnh mẽ. giúp cho việc phát triển trí tuệ óc tưởng tượng và có tác dụng giáo dục tình cảm, đạo đức cho trẻ em. Việc triển khai môn học Âm nhạc ở trường Tiểu học có ý nghĩa nhân văn rất lớn, phù hợp với công ước quốc tế về quyền trẻ em. Qua các bài học, các em được nghe hát, nghe nhạc, được tập hát, được biết một số kiến thức phổ thông về Âm nhạc, tất cả những cái đó sẽ tạo thành một trình độ văn hoá âm nhạc tối thiểu để góp phần cùng các môn học khác giáo dục nhân cách, làm cho các nội dung học tập ở nhà trường có tính toàn diện, làm thăng bằng, hài hoà các hoạt động của trẻ em.
Muốn đạt được những yêu cầu trên. Bản thân người giáo viên dạy bộ môn năng khiếu nói chung và bộ môn âm nhạc nói riêng phải cho học sinh hiểu được khái niệm về âm nhạc. Từ đó giáo viên cho học sinh làm quen với các âm thanh của các nốt. Dựa trên  những nốt nhạc đó các nhạc sỹ đã sáng tác nên những giai điệu, đấy chính là những tác phẩm và những tác phẩm yêu cầu học sinh, yêu cầu chúng ta phải hiểu được nội dung sắc thái tình cảm của bài hát. Căn cứ vào tình hình thực tiễn của nhà trường, với mong muốn tìm ra những biện pháp giáo dục học sinh một cách nhẹ nhàng thoải mái và yêu thích môn học, tôi đã chọn đề tài “Rèn luyện kỹ năng cảm thụ âm nhạc cho học sinh tiểu học”
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Hình thành và phát triển năng lực cảm thụ âm nhạc của học sinh, tạo cho các em có trình độ văn hoá âm nhạc nhất định, góp phần giáo dục toàn diện và hài hoà nhân cách của các em.
Tạo cho học sinh hứng thú, niềm vui khi học hát, nghe ca nhạc. Giáo dục năng lực cảm thụ âm nhạc, kích thích tiềm năng nghệ thuật, làm cho đời sống tinh thần của trẻ thêm phong phú. Phát triển trí tuệ, bồi dưỡng tình cảm trong sáng, lành mạnh, hướng tới chân, thiện, mĩ góp phần làm thư giãn đầu óc, làm cân bằng các nội dung học tập khác ở tiểu học.
Khích lệ học sinh hăng hái tham gia vào các hoạt động âm nhạc, làm cho đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh, tạo điều kiện để các em bộc lộ và phát triển năng khiếu.
III. NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt mục đích nêu trên, bản thân tôi đã xác định được những nhiệm vụ cần nghiên cứu sau:
-  Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài:
- Tìm hiểu luật giáo dục 2008.
- Tìm hiểu, tham khảo các tài liệu, phương tiện truyền thông có liên quan đến bộ môn Âm nhạc.
- Tìm hiểu tâm lý học sinh tiểu học.
- Tìm hiểu thực trạng học tập môn Âm  nhạc của học sinh, tình hình thực tế của các lớp trong trường.
- Tìm ra các biện pháp nhằm giúp học sinh mạnh dạn hơn, biết cảm nhận những giai điệu, những hình ảnh đẹp trong bài hát, yêu thích môn âm nhạc ở tiểu học.
2. Phương pháp nghiên cứu:
Để làm được những điều đã nêu trên thì ngay từ đầu năm tôi đã lập ra những việc cần làm trong năm học, tìm ra những biện pháp nhằm tạo mọi điều kiện cho các em có được sự ham thích, niềm đam mê âm nhạc qua các phương pháp sau:
          - Phương pháp trực quan.
          - Phương pháp nghiên cứu tài liệu, giáo trình.
          - Phương pháp kiểm tra đánh giá.
- Tổng kết kinh nghiệm qua thực tế giảng dạy các lớp được phân công.
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận:
Âm nhạc là một môn học mang tính nghệ thuật cao, nó khác rất nhiều so với môn học khác, tuy nó không đòi hỏi sự chính xác một cách tuyệt đối nhưng lại đòi hỏi người học phải có sự yêu thích, sự đam mê thậm chí là một chút cái gọi là “năng khiếu”, điều này không phải học sinh nào cũng có được. Học Âm nhạc mang đến cho học sinh những phút giây thư giãn, thoải mái, học mà chơi, chơi mà học. Thông qua những giai điệu, những câu hát, những lời ca, những cử chỉ, những điệu bộ, Âm nhạc giúp các em nhận thức những hình tượng âm thanh, giai điệu, kích thích cảm xúc của các em, giúp các em cảm thụ những giai điệu qua từng bài hát, từng nét nhạc.
II. Cơ sở thực tiễn:
Năm học 2009 - 2010 được sự phân công của Ban giám hiệu nhà trường, tôi  trực tiếp giảng dạy bộ môn Âm nhạc. Để học sinh học tập tốt môn học bản thân tôi luôn tìm tòi những phương pháp dạy học cho phù hợp đúng với lứa tuổi, đúng trương trình, tạo hứng thú cho học sinh yêu thích môn học. Tôi luôn tìm những phương pháp để đưa phong trào ca hát của nhà trường đạt kết quả và hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công, trong  khi nhận thức, sự hiểu biết, giọng hát của học sinh không đồng đều, có những em có giọng hát, hát đúng giọng, có những em hay hát lạc giọng, chưa mạnh dạn tham gia biểu diễn các bài hát hoặc biểu diễn chưa tự nhiên, chưa mạnh dạn nhận xét về tư thế biểu diễn của bạn mình hoặc về giai điệu tiết tấu các bài hát, các tác phẩm âm nhạc được nghe.
III. Nguyên nhân:
Sau khi rà soát nắm tình hình thực tế tôi đã tiến hành phân loại từng nhóm và đi sâu vào tìm hiểu những hạn chế từng mặt của mỗi học sinh cũng như hoàn cảnh, cá tính, sở thích của các em để từ đó có hướng bồi dưỡng và giúp đỡ phù hợp với đối tượng học sinh.
Do môn học đòi hỏi phải có tính năng khiếu nên trong khi ca hát một số học sinh hát lạc giọng, chưa thuộc lời, hát chưa chuẩn về giai điệu, tiết tấu, do một số em nói tiếng địa phương nên nói ngọng vì vậy nhiều em ngại tham gia các hoạt động âm nhạc trong lớp, hoặc học sinh chưa biết cách trình bày cảm nhận của mình về bài hát, tác phẩm âm nhạc, chưa mạnh dạnh trong việc nhận xét các bạn trong lớp biểu diễn bài hát.
Để phục vụ cho đề tài “ Rèn luyện kỹ năng cảm thụ âm nhạc cho học sinh Tiểu học” có kết quả, ngay từ đầu năm học tôi đã khảo sát chất lượng học sinh các khối 3, 4, 5 tại điểm trường Trung tâm qua các bài học.
Kế hoạch khảo sat, đánh giá học sinh, thời gian tháng 09/2010. Tổng số học sinh cả 3 khối có 10 lớp: Có 396 học sinh
Khối Tổng số HS Hoàn thành tốt (A+) Hoàn thành (A) Chưa hoàn thành (B)
SL % SL % SL %
Khối 3 144 6 4,1 138 95,8 0 0
Khối 4 107 5 4,6 102 95,3 0 0
Khối 5 145 6 4,1 139 95,8 0 0
Tổng 396 17 4,2 379 95,7 0 0
IV. Biện pháp khắc phục
1.    Đối với giáo viên:
Phối hợp cùng giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh để tìm hiểu sở thích, cá tính của các đối tượng học sinh.
Thường xuyên nghiên cứu, cải tiến phương pháp dạy học và học tập ở các phân môn khác để không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy về môn Âm nhạc.
Nắm vững kiến thức đã được trang bị ở nhà trường về chuyên môn, chuyên ngành về nghiệp vụ sư phạm. Hiểu được đặc điểm đối tượng về phát triển tâm sinh lý và sự hình thành phát triển ngôn ngữ.
Hình thành các biểu tượng thông qua các bài hát đó là những câu chuyện nhằm giáo dục hành vi đạo đức nhờ lời ca và giai điệu của bài mà gây được cho học sinh những xúc cảm và thể hiện được tình cảm sắc thái vào bài hát.
Định hướng cho các em thấy được chiều sâu của tác phẩm: nghe giai điệu và cảm thấy thích, nói được vì sao mà thích, thấy nó hay thì hay ở chỗ nào?  Còn qua các câu chuyện âm nhạc mà thấy được sức mạnh của Âm nhạc, tầm quan trọng của Âm nhạc trong đời sống hằng ngày.
Hằng ngày trò chuyện, gần gũi khích lệ cho các em để các em mạnh dạn, tự tin hơn trong khi biểu diễn các bài hát.
Trong các giờ học luôn tạo ra cho học sinh hứng thú để các em phấn khởi trong khi học tập.
2.    Đối với học sinh:
Trong các giờ học phải sôi nổi, mạnh dạn, biết nhận xét về tư thế hát, về giai điệu lời ca, các động tác phụ hoạ cho bài hát, hát đúng với nhạc.
Biết liên hệ với thực tế cuộc sống với nội dung bài hát, nội dung câu chuyện âm nhạc.
Ngoài tập biểu diễn các bài hát ở trường ở lớp về nhà các em tự tập hát kết hợp các động tác phụ hoạ cho bài hát và tập biểu diễn các bài hát.
V. Kết quả thực hiện:
Bằng sự nhiệt tình, tận tâm của bản thân tôi cùng với sự cố gắng nỗ lực của học sinh. Qua một thời gian rèn luyện kỹ năng cảm thụ âm nhạc cho học sinh tôi thấy các em có rất nhiều tiến bộ trong việc nêu cảm nhận của mình về bài hát, tác phẩm, mạnh dạn nhận xét các bạn trong lớp biểu diễn, từ đó các em tự sửa cho mình hát đúng giai điệu lời ca, mạnh dạn biểu diễn các bài hát, biểu diễn tự nhiên kết hợp với các động tác phụ hoạ. Học sinh tỏ ra rất thích học, rất say mê môn học. Không khí diễn ra sôi nổi, thoải mái kích thích được lòng say mê âm nhạc của học sinh. Học sinh chủ động tiếp thu một cách dễ dàng. Với những cố gắng trên tôi đã thực hiện khá thành công và đã phát huy được tính tích cực học tập của học sinh thông qua đợt khảo sát cuối cùng thời gian: tháng 5 năm 2010.
* Kết quả
Khối Tổng số HS Hoàn thành tốt (A+) Hoàn thành (A) Chưa hoàn thành (B)
SL % SL % SL %
Khối 3 144 10 6,9 134 93,0 0 0
Khối 4 107 8 7,4 99 92,5 0 0
Khối 5 145 8 5,5 137 94,4 0 0
Tổng 396 26 6,5 370 93,4 0 0
* So sánh đối chứng:
Trước khi áp dụng
- Lớp học trầm
- Học tập chậm chạp, ít phát biểu ý kiến.
- Chưa thể hiện được tính chất, tình cảm bài hát.
- Chưa biết nêu cảm nhận của mình về bài hát.
- Chưa mạnh dạn trong nhận xét các bạn biểu diễn bài hát.
- Số lượng học sinh rụt rè, nhút nhát khi biểu diễn còn nhiều.
Sau khi áp dụng
- Lớp học sôi nổi, tích cực.
- Học tập nhanh nhẹn, hăng hái phát biểu ý kiến.
- Thể hiện được tình cảm sắc thái của bài hát.
- Biết nêu cảm nhận của mình về bài hát, tác phẩm âm nhạc.
- Mạnh dạn nhận xét các bạn trong lớp biểu diễn bài hát.
- Số lượng học sinh mạnh dạn, tự  tin khi biểu diễn tăng lên nhiều.
VI. Bài học kinh nghiệm:
Trong quá trình rèn luyện kỹ năng cảm thụ âm nhạc cho học sinh, bản thân tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm sau:
- GV cần lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của học sinh.
- Giáo viên luôn phải tìm ra những phương pháp dạy cho từng đối tượng, từng lớp cho phù hợp, khai thác kĩ, mở rộng kiến thức bài dạy để thu hút học sinh.
- Luôn chuẩn bị đồ dùng đầy đủ, phong phú, tập kĩ sử dụng đàn đệm cho các bài hát, các động tác phụ hoạ trước khi lên lớp.
- Lên lớp giáo viên phải nhẹ nhàng thoải mái, nhưng phải có thái độ nghiêm túc trong giảng dạy.
- Thường xuyên tuyên dương, khen ngợi khích lệ kịp thời.
- Tạo điều kiện cho học sinh được tham gia nhiều hoạt động âm nhạc, nhất là học sinh cá biệt.
- Lấy học sinh làm trung tâm “Tất cả vì học sinh thân yêu”.
- GV âm nhạc phải là những nhà sư phạm mẫu mực về lối sống và nhân cách.
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Những đề xuất, kiến nghị.
“Rèn luyện kỹ năng cảm thụ âm nhạc cho học sinh Tiểu học” là một hình thức đơn giản và mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên để thành công rất cần sự phối hợp và tham gia của các cấp quản lí, giáo viên mà cụ thể là những phương tiện giảng dạy.
          Để tăng thêm hiệu quả giờ dạy và giáo dục âm nhạc, tôi rất mong các cấp lãnh đạo quan tâm hơn nữa tới cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy âm nhạc như phòng học chức năng, video, máy nghe nhạc, các loại nhạc cụ có chức năng hiện đại để sử dụng trong việc dạy học....
Tạo điều kiện cho chúng tôi có điều kiện học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp như tập huấn nâng cao chuyên môn, tổ chức chuyên đề....
2. Kết luận:
    Trên đây là một số kinh nghiệm “Rèn luyện kỹ năng cảm thụ Âm nhạc cho học sinh Tiểu học” mà tôi đã tiến hành trong năm học qua. Việc rèn luyện kỹ năng cảm thụ âm nhạc cho học sinh không phải laø một vieäc thöïc hieän deå daøng va trong moät thôøi gian nhanh ñöôïc maø laø cả một quá trình, đòi hỏi giáo viên phải kiên trì, bền bỉ, có lòng nhiệt tình tận tâm với nghề nghiệp thì mới đạt được kết quả như ý muốn, phong trào ca hát phải được duy trì thường xuyên, liên tục, trong các buổi học và gắn liền với các hoạt động vaên ngheä cuûa nhaø tröôøng .
Tôi hy vọng rằng kinh nghiệm nhỏ này sẽ góp phần nâng cao chất lượng  giáo dục bộ môn âm nhạc và các hoạt động văn nghệ trong nhà trường cho học sinh tiểu học./.

 

Người Viết: Đỗ Mai Anh


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
 
Hiệu trưởng xây dựng kỷ cương, nền nếp học sinh ở trường Tiểu học Thị Trấn Đầm Dơi”
 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lý do chọn đề tài:
* Khách quan:
Thực tế trong vài năm gần đây, nhà trường bị tác động mạnh mẽ bởi cơ chế thị trường, kỹ cương nền nếp trong nhà trường có phần bị buông lỏng, làm cho các tác động xấu ngoài xã hội có cơ hội xâm lấn, len lỏi vào trong nhà trường. Do đó, trong chỉ thị của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về nhiệm vụ năm học 2011-2012 đã nêu ra một trong những nhiệm vụ cấp bách phải thực hiện là: “Tăng cường kỷ cương, nền nếp học đường”. Cũng trên tinh thần ấy trong phương hướng nhiệm vụ năm học 2011-2012 của Phòng Giáo dục huyện Đầm Dơi cũng như phương hướng nhiệm vụ năm học 2011-2012 của trường đã dành riêng một tiêu đề nhấn mạnh vấn đề này.
Qua nghiên cứu, đối chiếu tình hình nhà trường của chúng tôi trong thời gian khoảng 3 năm gần đây nhận thấy có một số diễn biến phức tạp: học sinh nghỉ học không phép, trốn tiết, đi trễ về sớm, trật tự vệ sinh không đảm bảo, tạo băng nhóm đánh nhau… mặc dù nhà trường cũng có những biện pháp kỷ luật từ nhẹ đến nặng, nhưng tình hình vẫn không thuyên giảm. Như vậy, rõ ràng kỷ cương, nền nếp học đường hiện nay vẫn là vấn đề đáng quan tâm. Nó không chỉ làm ảnh hưởng bản thân vấn đề kỷ cương, nền nếp chung, còn ảnh hưởng đến môi trường sư phạm, mà còn tác động xấu đến nỗ lực nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.
Chủ quan: Khi còn là một giáo viên được phân công giảng dạy, tôi chỉ biết làm sao dạy cho tốt, chất lượng thật cao, mọi việc kỷ cương, nền nếp, trật tự, tác phong, chuyên cần của học sinh thường ít quan tâm, khi một học sinh vi phạm trong giờ học tôi chỉ xử lý sơ qua hoặc chuyển ngay cho đồng chí Hiệu trưởng giải quyết. Năm học 2008-2009 tôi được điều động về làm Hiệu trưởng trường tiểu học Thị Trấn Đầm Dơi, tôi nhận thấy công việc xây dựng kỷ cương, nền nếp học sinh tưởng rằng đơn giản nhưng quả thật không đơn giản chút nào. Tôi đã nỗ lực hết mình, vất vả với công việc nhưng không mang lại hiệu quả cao. Các giải pháp áp dụng chủ yếu bằng kinh nghiệm từ tích luỹ, bằng cảm tính hoặc làm theo sự chỉ đạo hướng dẫn của các cấp, các ngành cấp trên. Nhưng hiểu thấu cơ sở lý luận của công việc mình làm thì quả là mù mờ khó giải thích. Qua hơn 2 năm làm công tác quản lý ở trường tiểu học Thị Trấn Đầm Dơi, bản thân tôi đã nắm bắt được một cách có hệ thống vấn đề quản lý trong nhà trường nói chung và ở trường Tiểu học Tiểu học Thị Trấn nói riêng.
Đây là điều kiện giúp tôi đối chiếu lại với quá trình xây dựng kỷ cương, nền nếp trong học sinh của người cán bộ quản lý và của bản thân mình, từ đó biết mình phải làm gì? Làm như thế nào trong thời gian sắp tới.
Xuất phát từ lý do khách quan, chủ quan nói trên từ đó tôi đã chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Hiệu trưởng xây dựng kỷ cương, nền nến học sinh ở trường Tiểu học Thị Trấn huyện Đầm Dơi”.
2. Ý nghĩa thực tiễn: Bất kỳ tổ chức nào muốn tồn tại, bao giờ cũng đặt ra những qui định và yêu cầu mọi thành viên của tổ chức đó tuân theo, vì nhu cầu ý nghĩa, hành động của từng thành viên rất đa dạng và phức tạp. Chính những qui định đó sẽ ràng buộc họ thực hiện một cách nhịp nhàng và theo một hướng thống nhất. Trong trường học cũng vậy, việc xây dựng kỷ cương, nền nếp đối với học sinh là một yêu cầu bức thiết mà phải đặt ra. Lứa tuổi học sinh Tiểu học là lứa tuổi đang phát triển về mọi mặt một cách tự nhiên. Nếu nhà trường không đặt ra những qui định đúng đắn về học tập, sinh hoạt buộc các em phải tuân theo, nếu không các em sẽ hoạt động một cách tuỳ tiện vô nguyên tắc dẫn đến việc giảng dạy và học tập không đạt được kết quả mong muốn, các hành vi thói quen đạo đức tác phong cũng không được xác lập tốt.
Xuất phát từ tầm quan trọng đó, Hiệu trưởng phải coi trọng công tác này.
Trong khuôn khổ của Đề tài và thời gian không có nhiều, tôi xin trình đề tài “Hiệu trưởng xây dựng kỷ cương, nền nếp trong học sinh trương tiểu học Thị Trấn huyện Đầm Dơi” với những ý chính như sau:
Hiệu trưởng chỉ đạo xây dựng bảng nội qui học sinh.
Các biện pháp chỉ đạo của Hiệu trưởng đối với các lực lượng trong và ngoài nhà trường.
II. NỘI DUNG:
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI:
1. Giải thích khái niệm:                                                           
- Kỷ cương: Là những phép tắc làm nên trật tự xã hội.
- Nền nếp: Là toàn bộ nói chung những qui định và thói quen trong công việc hoặc sinh hoạt, làm cho các trật tự, có kỷ cương, có kỷ luật, có tổ chức.
- Xây dựng: Làm cho hình thành một tổ hay một chỉnh thể về xã hội, chỉnh thể kinh tế có thiện ý nhằm mục đích làm tốt hơn.
- Kỷ cương, nền nếp trong học sinh: Là những qui định, những phép tắc mà nhà trường đặt ra yêu cầu học sinh phải tuân theo để tạo ra sự ổn định, trật tự, làm nền tảng cho mọi hoạt động trong nhà trường. Đó là những qui định về học tập, sinh hoạt, chuyên cần, giờ giấc…
- Xây dựng kỷ cương, nền nếp trong học sinh: Là hình thành, duy trì hoặc nâng cao để đạt được một trạng thái nào đó về kỷ cương, nền nếp trong học sinh.
2. Cơ sở lý luận:
Các thành viên của một trường học hay lớp học là một nhóm chính thức nên bao giờ cũng có chuẩn mực của nó đó là một hệ thống những qui định, yêu cầu những thành viên của nó phải thực hiện và quyết tâm thực hiện. Các chuẩn mực này nhằm tạo điều kiện để thống nhất mọi hành vi của các thành viên trong nhóm, hoặc làm giảm tính hỗn hợp trong hành vi ứng xử của các thành viên trong nhóm. Từ đó mục đích của nhóm mới được thực hiện. Chuẩn mực quyết định phương thức ứng xử trong quan hệ giữa các thành viên và là sợi dây ràng buộc các cá nhân với nhóm, làm cho mọi cá nhân thuộc về nhóm, bảo đảm tính nhất thể của nhóm. Ngoài ra chuẩn mực còn bảo đảm cho sự hình thành và phát triển trật tự của nhóm, một hệ thống các hành vi ứng xử của các thành viên trong nhóm. Nhóm duy trì chuẩn mực đó bằng áp lực, bằng các biện pháp khác nhau, trong đó không loại trừ biện pháp trừng phạt với các thành viên lệch chuẩn.
Từ ý nghĩa trên mà người ta nói rằng: Chất lượng hoạt động của hệ thống phụ thuộc chặt chẽ vào người quản lý xây dựng chuẩn mực nhóm khoa học, chặt chẽ đến mức nào. Không có chuẩn mực thì không có tồn tại nhóm. Chuẩn mực không khoa học và sự duy trì không chặt chẽ thì nhóm đứng trước nguy cơ tan rã.
Trong trường học, đặc biệt là học sinh tiểu học ý nghĩa của việc xây dựng các chuẩn mực, tức kỷ cương, nền nếp và duy trì các chuẩn mực lại càng có ý nghĩa quan trọng, không chỉ là tiền đề, là điều kiện để thực hiện tốt việc dạy và học trên lớp mà đồng thời chính bản thân nó còn giáo dục cho học sinh ý thức chấp hành tổ chức kỷ luật, một phẩm chất rất cần thiết góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho các học sinh tiểu học hiện nay.
Nguyên lý Wiên-ep về sự hút và sự đẩy giữa các tần số nêu rõ “Trong một tổ chức có hiệu lực, nếu đa số các bộ phận các thành viên làm việc tốt, thì các thành viên chậm tiến sẽ nhanh chóng đuổi kịp các phần tử tích cực. Ngược lại trong một tổ chức kém hiệu lực nếu có một bộ phận, thành phần xuất sắc thì cũng sẽ thụt lùi theo thành phần chậm tiến”. Từ luận điểm trên ta thấy trong trường học nếu hình thành một bộ máy có hiệu lực, tức trong đó có phân công đúng người, đúng việc, qui định nhiêm vụ chức năng từng người, từng bộ phận sao cho họ ý thức được, họ phải làm gì, làm như thế nào? ai làm được qui định rõ các mối quan hệ ngang dọc sao cho bộ máy vận hành ăn khớp, nhịp nhàng, không cản trở lẫn nhau… chẳng hạn giáo viên chủ nhiệm lớp, đoàn, đội hay tập thể sư phạm nhà trường biết phải làm gì? làm như thế nào? ai làm được, quan hệ giữa các bộ phận ra sao? chịu trách nhiệm trước ai… mặc khác nếu xây dựng tốt kỷ cương, nền nếp ở các bộ phận học sinh những khối lớp cũ thì sẽ có tác động tích cực đến cơ chế lây lan đến việc chấp hành kỷ cương, nền nếp của những khối lớp mới vào, từ đó hình thành nền nếp- kỷ cương chung của nhà trường.
Điều 82 Luật giáo dục hiện hành có đoạn nêu: Trách nhiệm của gia đình học sinh “Mọi người trong gia đình có trách nhiệm xây dựng gia đình văn hoá, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất thẩm mỹ của con em, người lớn tuổi có trách nhiệm làm gương cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục”.
Như vậy, rõ ràng trong quá trình xây dựng kỷ cương, nền nếp học sinh cần phải gắn chặt với gia đình- nhà trường- xã hội nêu cao ý thức trách nhiệm của gia đình và tranh thủ sự hỗ trợ đắc lực từ phía gia đình học sinh.
Trên cơ sở nhận thức những vấn đề nêu trên thời gian qua lãnh đạo nhà trường đã từng bước vận dụng vào những việc làm cụ thể trong việc hình thành, duy trì kỷ cương, nền nếp trong nhà trường.
Trong đó có những mặt thực hiện khá tốt, có mặt còn hạn chế cần chấn chỉnh hoặc cải tiến.
B. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG KỶ CƯƠNG - NỀN NẾP Ở TRƯỜNG TH THỊ TRẤN ĐẦM DƠI. NĂM HỌC 2011-2012.
 1. Vài nét về đặc điểm nhà trường:
* Thuận lợi:
- Trường Tiểu học Thị Trấn Đầm Dơi đóng trên địa bàn của Thị Trấn, là nơi trung tâm văn hóa chính trị của một huyện. Trong năm học vừa qua, được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo phòng GD&ĐT và các ban ngành đoàn thể đóng trên địa bàn thị trấn. Đặc biệt được sự quan tâm giúp đỡ của các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân Thị Trấn Đầm Dơi.
- Ban đại diện Cha mẹ học sinh, Chi hội trưởng các lớp và phụ huynh học sinh đã góp phần đáng kể cùng với nhà trường trong việc huy động đóng góp quỹ khuyến học để hỗ trợ khen thưởng trong các phong trào thi đua, từ đó đã thúc đẩy các phong trào thi đua học tập và tu dưỡng đạo đức của học sinh trong toàn trường ngày càng phát triển về số lượng cũng như chất lượng.
- Chi bộ Đảng, lãnh đạo nhà trường hàng tháng có kế hoạch chỉ đạo, điều hành một cách sâu sát. Từ đó, đã giữ vững kỷ cương nền nếp dạy và học.
- Các tổ chức đoàn thể trong nhà trường đã thể hiện được vai trò, trách nhiệm của mình, có những hoạt động cụ thể, thiết thực góp phần cùng với nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học 2011 – 2012.
- Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường nhiệt tình, có tay nghề khá, giỏi và có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy.
* Khó khăn:
- Cơ sở vật chất, trường lớp của nhà trường chưa đáp ứng được các yêu cầu: điểm trường khóm 4 còn phải chung với THCS Dương Thị Cẩm Vân để giảng dạy.
- Trình độ học sinh không đồng đều, gần một nửa học sinh của nhà trường là của các xã khác đến học, một số em nhà ở xa phải đi học bằng tàu đò đưa rước phần nào cũng làm ảnh hưởng đến việc học tập của các em.
- Thị trấn Đầm Dơi là nơi trung tâm của một huyện, nhiều người dân đến tạm trú để làm ăn sinh sống. Đa số những người dân này là nghèo, cuộc sống không ổn định nên ít có điều kiện quan tâm đến việc học hành của con cái. Chính vì vậy, các em này thường là học yếu và có nguy cơ bỏ học.
Trường Tiểu học Thị Trấn huyện Đầm Dơi cách trung tâm Thành phố Cà Mau khoảng 35 km, đường đi lại gặp rất nhiều khó khăn, nhất là về mùa mưa. Nhân dân địa phương vài năm gần đây chuyển dịch cơ cấu từ trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản, làm dịch vụ  mua bán nhỏ…cho nên đời sống thu nhập ngày càng khá hơn, tạo điều kiện tốt về cơ sở vật chất và thời gian cho con em học tập.
Tuy nhiên, mặt trái của vấn đề là không ít gia đình bị lôi cuốn theo đồng tiền, họ chỉ nghĩ đơn giản rằng: việc giáo dục, việc học hành có nhà trường lo, gia đình kiếm được nhiều tiền để lo quần áo, sách vở, tiền bạc cho con em họ ăn học là đủ. Từ nhận thức đó dẫn đến nhiều gia đình giao phó cho nhà trường, buông lỏng việc quản lý con em, việc chấp hành kỷ cương, nền nếp của con cái trong nhà trường và ngay cả ở nhà. Nhưng ngược lại họ lại yêu cầu cao đối với nhà trường về việc quản lý kỷ cương, nền nếp học sinh tránh lêu lỏng dẫn đến hư hỏng. Rõ ràng đây là một khó khăn từ sự hỗ trợ của gia đình đối với nhà trường.
2. Tình hình về tổ chức, biên chế của nhà trường:
Trường được thành lập gần 20 năm nay, cơ sở vật chất về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu dạy- học và sinh hoạt.
- Toàn trường có 55/35 CB,GV,CNV:
- Lãnh đạo nhà trường có 3 đồng chí.
- Hiệu trưởng lãnh đạo chung.
- 01 Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn.
- 01 Phó hiệu trưởng phụ trách phổ cập. CSVC.
- Giáo viên có 38/32 nữ. Trong đó được đào tạo:
+ THSP: 18
+ Cao đẳng: 11
+ Cử nhân tiểu học: 18
+ Giáo viên chuyên trách Đoàn, Đội 01 đồng chí.
+ Tổng số đoàn viên công đoàn: 55/35 đồng chí.
- Tổng số lớp: 38 lớp, tổng số học sinh: 1.522/732 nữ. Trong đó học sinh dân tộc: 02/01; khuyết tật 8/2; học sinh nghèo 155/77 được chia ra từng khối cụ thể như sau:
- Khối  1: 8 lớp – TSHS: 295/141 nữ.
- Khối  2: 9 lớp – TSHS: 338/167 nữ.
- Khối  3: 8 lớp – TSHS: 313/143 nữ.
- Khối  4: 7 lớp – TSHS: 289/141 nữ.
- Khối  5: 6 lớp – TSHS: 286/140 nữ.
* Vài nét nhận xét về đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên trong nhà trường:
Lãnh đạo nhà trường: Có trình độ chuyên môn khá vững vàng, có kinh nghiệm trong công tác quản lý, làm việc có năng động và sáng tạo, có uy tín với hội đồng sư phạm của nhà trường.
Giáo viên có 02 đồng chí mới ra trường còn lại có thâm niên trên 15 năm, trong công tác giảng dạy, giáo viên phần lớn có kinh nghiệm giảng dạy, giáo dục, một số ít giáo viên trẻ mới ra trường xử lý học sinh còn máy móc, rập khuôn, chưa thật quan tâm đến tình lý của vấn đề.
Sau đây là thực trạng và các giải pháp trong việc chỉ đạo và xây dựng kỷ cương, nền nếp trong học sinh:
3. Hiệu trưởng xây dựng chỉ đạo bản nội qui học sinh:
 Xây dựng bản nội qui học sinh là xây dựng những chuẩn mực về kỷ cương, nền nếp. Một mặt phải bảo đảm những yêu cầu chung của Bộ GD&ĐT và kỷ cương đối với học sinh của từng khối lớp trong nhà trường, mặt khác phải phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế của địa phương. Nhằm đưa hoạt động học tập sinh hoạt của học sinh đi vào kỷ cương, nền nếp và cũng là một trong những yếu tố bảo đảm sự tồn tại và phát triển của nhà trường. Như cơ sở lý luận đã nên trong bản nội qui, tuy bảo đảm được những yêu cầu cơ bản, nhưng theo thời gian có vấn đề cần phải chỉnh lý theo yêu cầu cao hơn phù hợp với sự phát triển của nhà trường và đời sống xã hội, cũng như cần phải cụ thể hơn, tránh trường hợp triển khai thực hiện mỗi bộ phận vận dụng một cách khác nhau, dẫn đến tình trạng “ trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, từ đó làm giảm hiệu lực bản nội qui và đây cũng là khe hở tạo điều kiện học sinh vi phạm bản nội qui.
Tóm lại: Bằng sự chỉ đạo sâu sát cảu Hiệu trưởng trong việc đổi mới nội dung và cách tiếp cận bản nội qui học sinh. Tình hình nhà trường cuối năm về mặt này đã có nhiều chuyển biến rõ rết như: tác phong của học sinh chuẩn mực hơn, học sinh vắng mặt trong các buổi học giảm hơn.
4. Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm các lớp làm công tác kỷ cương, nền nếp lớp học:
Giáo viên chủ nhiệm các lớp ở khía cạnh nào xem như “ Hiệu trưởng” của một lớp,  nhà trường có kỷ cương, nền nếp phải trên cơ sở của từng lớp, chấp hành tốt kỷ cương, nền nếp của nhà trường. Vì vậy, trường rất quan tâm đến đội ngũ này, đã bồi dưỡng nhận thức, tình cảm, tạo mọi điều kiện thuận lợi để họ thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.
Thực tế nhiều giáo viên nhận thức rõ trách nhiệm, nắm vững nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm cao, gắn bó với lớp, tổ chức hướng dẫn cho lớp tất cả những việc dù là nhỏ, đồng thời còn dự đoán tốt mọi tình huống có thể xảy ra trong lớp để có biện pháp ngăn chặn kịp thời những hiện tượng vi phạm, xây dựng tốt kỷ cương, nề nếp của lớp.
          Tuy nhiên có một số lớp tình hình kỷ cương, nền nếp chưa được tốt, nguyên nhân là do giáo viên chủ nhiệm còn chủ quan, lơ là, ít quan tâm đến lớp, mà giao phó cho toàn bộ nhà trường. Trong xử lý học sinh vi phạm còn rập khuôn, cứng nhắc, chỉ xử lý dựa vào “hiệu quả” mà ít tìm hiểu kỹ nguyên nhân của sự việc, giờ sinh họat lớp không khí còn nặng nề, chủ yếu là la rầy, chừng phạt mà không phân tích tường tận vấn đề tốt, xấu, đúng, sai, nên, không nên, lợi, hại, thế nào, không tổ chức hướng dẫn… để giáo viên chủ nhiệm làm tốt công tác của mình, đầu năm hiệu trưởng yêu cầu giáo viên chu nhiệm nắm chắc tình hình chấp hành nội quy học kỷ luật của học sinh năm trước để có kế hoạch cho năm mới. trao đổi với giáo viên chủ nhiệm về nghiệp vụ công tác, về nội dung, bản nội quy học sinh, đồng thời yêu cầu giáo viên chủ nhiệm lên kế họach thực hiện bản nội quy trong lớp mình, trong đó có đề ra các biện pháp thi đua – khen thưởng giữa các tổ. Hàng tháng sau phiên họp Hội đồng sư phạm, Hiệu trưởng tổ chức họp giáo viên chủ nhiệm để nắm tình hình thực hiện kỷ cương, nền nếp trong học sinh tháng qua, trao đổi một số nghiệp vụ cụ thể: Bàn biện pháp chấn chỉnh một số vi phạm phổ biến điển hình… ngoài ra Hiệu trưởng còn tổ chức dự giờ sinh hoạt cuối tuần, nhất là số giáo viên còn ít kinh nghiệm để các biện pháp giúp đỡ kịp thời.
          Hàng ngày Hiệu trưởng yêu cầu giáo viên chủ nhiệm các lớp kết hợp với đoàn – đội nhà trường đển nắm bắt cụ thể những việc xảy ra hàng ngày của các lớp (trực tiếp hoặc thông qua sổ sách) trên cơ sở đó để uốn nắn kịp thời những lệch lạc, ngoài ra còn phải liên hệ với phụ huynh học sinh (qua học phụ huynh học sinh, qua sổ liên lạc hoặc gặp trực tiếp) để tranh thủ sự hợp tác từ phía gia đình học sinh, đặc biệt đối với một số trường hợp học sinh cá biệt.
          Tóm lại: Bằng nhiều biện pháp khác nhau, Hiệu trưởng từng bước xây dựng một đội ngũ giáo viên chủ nhiệm ngày càng nâng cao về nghiệp vụ, gắn bó thật sự với học sinh, xây dựng tốt kỷ cương, nền nếp, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.
5. HIệu trưởng phối hợp và tạo điều kiện để Đoàn – Đội làm kỷ cương, nề nếp:
Đoàn – Đội là tổ chức chính trị trong nhà trường, có nhiệm vụ giáo dục đội thiếu niên sao nhi đồng trong nhà trường, trong đó có giáo dục ý thức chấp hành kỷ cương, nền nếp học sinh nhận thức nhiệm vụ này, hiệu trưởng thông qua chi bộ tác động đến lực lượng Đoàn – Đội để lực lượng này tham gia tích cực và thực hiện kỷ cương, nền nếp.
          Đoàn – Đội đã thành lập ban thi đua xây dựng chuẩn đánh gia thi đua dựa vào yêu cầu của bản nội quy học sinh, phân công trực hàng ngày, hàng tuần, cuối mỗi tuần tổng hợp đánh giá thi đua vào đầu tuần tới. Ngòai ra trong họat động của mình, Đoàn – Đội còn thường xuyên tổ chức các phong trào với nhiều hình thức đa dạng và phong phú, nhằm tuyên truyền vận động học sinh chấp hành tốt nội quy nhà trường “Tuần lễ chuyên cần”, “Tuần lễ vở sạch chữ đẹp”, bao bìa dán nhãn “Tháng vệ sinh môi trường”, “Tháng an toàn giao thông”. Đặc biệt tổ chức vui chơi giữa buổi học, thu hút học sinh tham gia vui chơi, giải trí một cách lành mạnh, tránh học sinh leo trèo quậy phá trong giờ ra chơi.
          Về phía nhà trường: Hiệu trưởng thường xuyên quan tâm đến các họat động trên, tạo quỹ cho Đoàn – Đội họat động thể thao, khen thưởng kịp thời.
          Thực tế cho thấy: Đoàn – Đội có nhiều điều kiện thuận lợi làm tốt mặt này và thực tế đã xây dựng được phong trào tự quản trong học sinh, đóng góp rất lớn vào việc giáo dục ý thức chấp hành nội quy tổ chức kỷ luật.
          6. Phối hợp với lượng ngoài xã hội trong việc xây dựng kỷ cương, nền nếp.
          Bên cạnh một số biện pháp cơ bản nên trên, Hiệu trưởng còn rất quan tâm và có kế hoạch phối hợp với các lượng ngoài xã hội để trao đổi thông tin, hợp đồng trách nhiệm trong việc giáo dục kỷ cương, nền nếp trong học sinh như: Đầu năm phụ huynh học sinh ký vào bản cam kết trách  nhiệm với nhà trường và qua Đại hội phụ huynh học sinh thông báo cho phụ huynh học sinh yêu cầu về kỷ cương, nền nếp của nhà trường để họ có biện pháp giúp đỡ con em thực hiện tốt.
          Ngoài ra hiệu trưởng còn ký kết hợp đồng trách nhiệm với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương tham gia tuyên tuyền kỷ cương, nền nếp.
          7. Hiệu truởng kế hoạch hoá việc xây dựng kỷ cương, nền nếp trong học sinh tiểu học:
          Việc xây dựng kỷ cương, nền nếp trong học sinh là việc làm thường xuyên nên trước kia Hiệu trưởng không làm kế hoạch hoá về mặt này, nhưng thực tế thấy rằng cần kế hoạch hoá, tức cần xác định rõ mục tiêu quản lý lĩnh vực này.
          Kế hoạch hoá việc kỷ cương, nền nếp không cần phải xây dựng riêng mà có thể ghép chung vào kế hoặch năm học của nhà trường và phải bảo đảm những vần đề sau:
           Tóm tắt tình hình thực hiện kỷ cương, nền nếp của học sinh trong năm qua (điểm mạnh, điểm yếu) và nhận định tình hình thuận lợi, khó kăn trong năng học mới.
           Nêu rõ nhiệm vụ và các chỉ tiêu phải đạt từng thời kỳ, từng đối tượng, từng công việc, kết quả đạt được …
          Tóm lại: Thực tế trong những năm qua cho thấy hiệu trưởng nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng kỷ cương, nền nếp học sinh trong trường, hiệu trưởng đã có những biện pháp đúng đắn kịp thời để huy động được các lực lượng quan trọng trong nhà trường và ngoài xã hội tham gia vào công tác nền nếp của nhà trường. Kết quả đã đạt được công tác kỷ cương, nền nếp đã có tác dụng vừa là mục đích vừa là tiêu đề cho các hoạt động khác trong nhà trường. Đặc biệt là hoạt động dạy và học trên lớp và hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng - đạo đức cho học sinh.
 
 
III. KẾT QUẢ:
Năm học Ghi
chú
2008-2009
1.214
2009-2010
1.325
 2010-2011
1.498
Sô HS thực hiện kỷ cương - nền nếp chưa tốt Sô HS thực hiện kỷ cương - nền nếp chưa tốt Sô HS thực hiện kỷ cương - nền nếp chưa tốt  
TS. HS % TS. HS % TS. HS %
103 8,48 87 6,6 65 4,3
 
IV. KẾT LUẬN:
          1. Bài học kinh nghiệm:
          Căn cứ vào cơ sở lý luận đã học và thực tiễn công tác chỉ đạo xây dựng kỷ cương, nền nếp học sinh của Hiệu trưởng. Tôi tự rút ra bài học kinh nghiệm sau đây:
          1.1 Hiệu trưởng cần có nhận thức đúng đến vấn đề kỷ cương, nền nếp học sinh và luôn quan tâm đến công tác này trong suốt quá trình quản lý. Bởi lẽ, một khi kỷ cương bị coi thường nề nếp lỏng lẻo thì có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động dạy và học và giáo dục học sinh, đồng thời mất rất nhiều thời gian và công sức để tạo lập lại. Về phía phụ huynh học sinh hiện nay có thời gian quan tâm đến kỷ cương, nền nếp của con em mình, nên cái mà họ cần trước tiên đối với nhà trường là kỷ cương, nền nếp của học sinh, nhằm để đảm bảo con em họ tránh hư hỏng trong xã hội đầy cạm bẫy và họ nghĩ rằng nếu nhà trường có kỷ cương, nề nếp tốt thì tạo nên một tiền đề tốt cho việc nâng cao chất lượng dạy và học.
          1.2 Hiệu trưởng cần quan tâm xây dựng kỷ cương, nề nếp trong đội ngũ giáo viên, vì đây là một trong những yếu tố cấu thành bộ máy có hiệu lực, có tác động đến kỷ cương, nền nếp trong học sinh.
          1.3 Muốn học sinh chấp hành tốt kỷ cương, nền nếp thì nhất thiết phải có một chuẩn mực hợp lý, vì vậy hiệu trưởng phải quan tâm cải tiến bản nội quy học sinh, bằng nhiều biện pháp khác nhau tuyên truyền sâu rộng trong học sinh, trong đội ngũ giáo viên và gia đình học sinh để mọi người nắm vững và luôn có ý thức chấp hành tổ chức kỷ luật của nhà trường.
          1.4 Vấn đề kỷ cương, nền nếp học sinh là vấn đề không phải của riêng ai trong các lực lượng trong và ngoài nhà trường, vì thế, Hiệu trưởng cần huy động mọi lực lượng tham gia và cũng không thành công. Nếu từng bộ phận  hoạt động riêng lẻ, nó cần phối hợp chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ.
          1.5 Tuy kỷ cương, nền nếp học sinh là việc làm thường xuyên hàng ngày nhưng Hiệu trưởng có kế hoạch việc nào làm trước, việc nào làm sau, trong không gian, thời gian nào là hợp, việc nào đối tượng nào tác động mạnh… cũng phải tính toán từ đầu có trọng điểm. Nếu làm tốt được việc này, ở đối tượng này sẽ có tác động lây lan, ám thị đến đối tượng khác.
          1.6 Bên cạnh thi đua – khen thưởng cũng cần xử lý kỷ luật nghiêm những  trường hợp vi phạm kỷ cương - nền nếp có tính hệ thống.
          2. Dự kiến của bản thân sau thực hiện sáng kiến kinh nghiệm:
          2.1 Tiếp tục hoàn chỉnh bản nội quy học sinh sao cho ngắn gọn, cụ thể nhưng đầy đủ để học sinh dể nhớ, dể thực hiện.
          2.2 Cần phải có bản quy định xử lý kỷ luật học sinh làm cho học sinh rõ hậu quả của các hành vi vi phạm, đồng thời cũng góp phần cho việc đánh giá hạnh kiểm của học sinh cuối học kỳ và cuối năm học.
          2.3 Phân định rõ nhiệm vụ của từng bộ phận trong nhà trường và mối quan hệ giữa các bộ phận này trong việc xây dựng kỷ cương, nền nếp học sinh.
          2.4 Kiện toàn lại các đoàn thể trong nhà trường theo hướng nâng cao uy tín của các đoàn thể trong nhà trường xã hội chủ nghĩa.
          3. Kiến nghị:
          Hiện nay nhà trường còn thiếu giám thị, vì giám thị có vai trò quan trọng là tai, mắt của giáo viên chủ nhiệm các lớp và Hiệu trưởng, góp phần rất lớn trong công tác xây dựng kỷ cương, nền nếp trong học sinh. Vì vậy đề nghị các cấp lãnh đạo phòng GD&ĐT tăng cường đội ngũ giám thị, quy định chính thức chức danh giám thị trong nhà trường, nhằm để khẳng định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn và quyền lợi của giám thị.
 
                                                                      Người viết sáng kiến
 
 
                                                                             Nguyễn Tiến Dũng

CÔNG TÁC THƯ VIỆN
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ
          1/ Lý do chọn đề tài.
1.1/ Cơ sở lý luận.
          Thư viện trường học có một vai trò rất quan trọng. Nó là một bộ phận cơ sở vật chất trọng yếu, trung tâm sinh hoạt văn hoá và khoa học của nhà trường. Thư viện góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về khoa học, xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu của giáo viên, đọc sách của học sinh và xây dựng nếp sống văn hoá mới cho các thành viên của nhà trường.
          Thư viện là nơi cung cấp cho giáo viên và học sinh đầy đủ các loại sách giáo khoa, sách tham khảo, sách nghiệp vụ, các loại từ điển để tra cứu, các loại sách báo, tạp chí, các loại tài liệu cần thiết của Đảng, Nhà nước và của các cấp, các ngành phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học giáo dục, bổ sung kiến thức các môn khoa học, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.
          Trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, giáo dục là quốc sách hàng đầu của quốc gia trong việc đào tạo con người mới phát triển toàn diện ... Không thể nào hình dung được một chiến lược phát triển giáo dục phổ thông mà không có sự tham gia tích cực của thư viện trường học cũng như các cơ quan thông tin.
          Thư viện còn giúp cho cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh xây dựng phương pháp học tập, phong cách làm việc khoa học, biết kỹ năng sử dụng sách, báo, tài liệu ...
          Vì vậy, cần phải làm thế nào để xây dựng thư viện trường học đạt hiệu quả, chủ động khai thác vốn sách, tổ chức các hoạt động của thư viện, quản lý thư viện, để kịp thời bổ sung các loại sách, tài liệu mới, sử dụng và quản lý chặt chẽ kinh phí đầu tư cho thư viện của nhà trường đúng mục đích.
          1.2/ Cơ sở thực tiễn.
          Xây dựng thư viện, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, tổ chức thu hút mọi thành viên trong nhà trường tham gia hoạt động thư viện nhằm khai thác triệt để kho sách, nhất là sách nghiệp vụ và sách tham khảo là góp phần để nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Thực tiễn hoạt động thư viện cho thấy, năm học 2009 - 2010 thư viện Trường Tiểu học thị trấn Đầm Dơi đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, song vẫn còn nhiều mặt hạn chế: cơ sở vật chất thiếu thốn, thư viện chưa có phòng đọc sách; chưa thực hiện tốt công tác xã hội hoá thư viện, tất cả các loại sách hiện có chủ yếu đều do thư viện Phòng Giáo dục – Đào tạo cung cấp, chưa huy động được sự đóng góp của giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh; chưa làm tốt công tac tuyên truyền, giới thiệu sách, do đó chưa thu hút được sự quan tâm của giáo viên, học sinh, số lượng bạn đọc chưa nhiều, chưa tạo được ý thức tự giác, ham thích đọc sách trong giáo viên và học sinh …
          2/ Những thuận lợi, khó khăn.
          2.1/ Thuận lợi:
          - Được sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư của lãnh đạo Phòng Giáo dục – Đào tạo cùng với sự nỗ lực của Ban giám hiệu, cán bộ phụ trách, thư viện Trường Tiểu học thị trấn Đầm Dơi đã được công nhận thư viện đạt chuẩn từ năm học 2008 – 2009.
- Cán bộ chuyên trách công tác thư viện của trường nhiệt tình, có kinh nghiệm trong hoạt động thư viện, đã kinh qua tập huấn về công tác này.
          2.2/ Khó khăn:
          - Cơ sở vật chất của nhà trường còn nghèo nàn, trường còn phải mượn tạm phòng học của Trường Trung học cơ sở Dương Thị Cẩm Vân. Điều kiện phục vụ cho công tác giảng dạy của giáo viên và của học sinh gặp nhiều khó khăn.
- Trường có 2 điểm trường nhưng chỉ có một kho sách. Sách chủ yếu là sách giáo khoa của học sinh và một số sách nghiệp vụ, sách tham khảo của giáo viên, sách truyện dành cho thiếu nhi chưa nhiều. Chưa có phòng đọc cho giáo viên, học sinh. Cán bộ thư viện lên kế hoạch, lịch đọc sách luân phiên cho các lớp tại điểm trường khóm 1, còn điểm trường khóm 4 giáo chủ nhiệm liên hệ gặp cán bộ thư viện mượn cho học sinh về nhà đọc.
- Một số học sinh chưa có ý thức giữ gìn sách và chưa ham thích đọc sách nên việc đọc sách chưa đem lại kết quả như mong muốn.
3/ Thực trạng:
          - Hiện nay, tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường là 54 người; tổng số học sinh là 1520 em với 38 lớp.
          - Năm học 2009 – 2010 số lượng sách tặng cho thư viện của giáo viên và học sinh là 175 cuốn. Con số này quá ít so với số lượng của giáo viên và học sinh của trường.
          - Năm học 2009 – 2010 số lượt đọc sách bình quân/1 GV là 1,0 và bình quân/1 HS là 0,7 chỉ mới đạt yêu cầu tối thiểu theo quy định của thư viện đạt chuẩn.
          - Công tác truyên truyền, giới thiệu sách hàng tháng thư viện đều có xây dựng kế hoạch nhưng chỉ mang tính hình thức, chưa có biện pháp tuyên truyền sâu rộng đến giáo viên và học sinh.
          - Thư viện làm việc chưa kết hợp chặt chẽ với các bộ phận, các đoàn thể ttrong nhà trường nên chất lượng hoạt động thư viện chưa cao.
          Từ thực trạng công tác thư viện như thế, nhận thức được tầm quan trọng của thư viện trong trường học là góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Đặc biệt sự quan tâm chỉ đạo, quản lý của nhà trường đối  với công tác thư viện là vô cùng quan trọng nó quyết định sự thành công hay thất bại của nhà trường. Chính vì vậy tôi chọn đề tài “ Một số kinh nghiệm chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thư viện trường Tiểu học thị trấn Đầm Dơi”.
II/ NHỮNG BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
          1/ Những vấn đề đặt ra.
          - Vấn đề thứ nhất: Xây dựng được thư viện trường học, có kho sách, có phòng đọc, tủ kệ đựng sách, có đủ bàn ghế  cho giáo viên và học sinh ngồi đọc và vốn tài liệu.
          - Vấn đề thứ hai: Muốn xây dựng thư viện chuẩn cần phải có cán bộ thư viện, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ về công tác thư viện để xử lý kỹ thuật như đăng ký, đóng dấu, phân loại sách, mô tả, sắp xếp sách ....
          - Vấn đề thứ ba: Làm thế nào để tổ công tác thư viện hoạt động đều và có chất lượng.
- Vấn đề thứ tư: Khi đã có thư viên, có tổ cộng tác viên thì việc tổ chức đọc sách, khai thác sách như thế nào để đạt được mục đích và có hiệu quả.
          2/ Biện pháp thực hiện.
          Nhận thức công tác thư viên trường học đóng một vai trò quan trọng, trong công tác chỉ đạo, tôi đã có những cách làm, những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thư viện nhà trường như sau:
2.1/ Tăng cường công tác xây dựng cơ sở vật chất cho thư viện.
          - Hàng năm, chúng tôi đều dành nguồn kinh phí từ nguồn ngân sách để mua sách, báo, thiết bị để nâng cấp thư viện.
          - Về sách giáo khoa, chúng tôi đã xây dựng “Tủ sách giáo khoa dùng chung” để phục vụ cho những học sinh không có điều kiện mua sách, các em có thể đến thư viện để mượn.
          - Đối với giáo viên, cung cấp cho mỗi giáo viên một bộ sách theo khối lớp. Ngoài ra, chúng tôi còn dự trữ mỗi tên sách ít nhất 3 bản.
          - Về sách nghiệp vụ của giáo viên, chúng tôi trang bị đủ các văn bản, nghị quyết của Đảng; văn bản qui phạm pháp luật của Nhà nước, tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ của ngành phù hợp với cấp tiểu học.
          - Về sách tham khảo, bổ sung các loại sách phù hợp với yêu cầu của giáo viên và học sinh như “Tủ sách pháp luật”, “Tủ sách đạo đức”, “Tủ sách về Bác Hồ”
          - Về báo, tạp chí, tranh ảnh bản đồ, băng đĩa, chúng tôi đặt ra mua tạp chí “Dạy và học ngày nay”, tạp chí “Toán học tuổi thơ”, chuyên đề “ giáo dục tiểu học”, chuyên đề “Người phụ trách”... phù hợp lứa tuổi, nhu cầu tham khảo của giáo viên và học tập của học sinh.
          - Nhà trường chỉ đạo cán bộ thư viện đăng ký tài liệu đã mua, xem tài sản của thư viện là tài sản chung của nhà trường và cũng là cơ sở để báo cáo cho người trực tiếp chỉ đạo vào cuối học kỳ, cuối năm học về tài sản của thư viện.
          - Bên cạnh đó, người trực tiếp chỉ đạo thường xuyên kiểm tra việc sắp xếp, phân loại tài liệu của cán bộ thư viện. Việc bố trí sách phải hợp lý, hài hoà, dễ lấy, tạo điều kiện cho bạn đọc dễ tìm.
          - Hàng năm, vào cuối năm học, phó Hiệu trưởng thành lập Ban kiểm kê sách gồm có phó Hiệu trưởng là người trực tiếp chỉ đạo làm Trưởng ban, cán bộ thư viện làm Phó ban, một cán bộ văn phòng làm thư ký, một cán bộ thiết bị làm thành viên.
          - Kiểm kê nhằm mục đích kiểm tra số lượng sách các loại thực tế ở giá sách, số còn thiếu ở vị trí kệ sách, lý do tại sao thiếu (do độc giả còn mượn hay mất). Từ đó có biện pháp trong công tác bảo quản sách của cán bộ thư viện.
          2.2/ Chỉ đạo tổ cộng tác viên thư viên hoạt động đạt hiệu quả.
          - Hàng năm, vào đầu năm học, tôi đã ra quyết định thành lập tổ công tác thư viện. Trong những năm đầu mới thành lập, bản thân tôi trực tiếp làm tổ trưởng, chỉ đạo trực tiếp công tác thư viện nhà trường.Cán bộ thư viện làm tổ phó.
          - Các thành viên bao gồm: Đại diện Công đoàn, Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, các khối trưởng chuyên môn và một số học sinh có khả năng hoạt động thư viện. Để hoạt động của tổ cộng tác viên đạt hiệu quả, tổ trưởng phải phân công nhiệm vụ cho mỗi thành viên. Chủ yếu các nhiệm vụ sau:
          - Tổ chức giới thiệu sách mới nhằm phục vụ các nhu cầu dạy học theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.
          Ví dụ: Trong đợt học sinh thi giải toán trên mạng Internet, tài liệu trên mạng không tải về được. Tổ cộng tác viên biết được thông tin: Nhà sách giáo dục có bán loại sách này để thông báo cho thư viện biết để mua.
          - Vận động các cá nhân ủng hộ tặnh sách cũ cho thư viện.
          Mỗi năm học, nhà trường đều vận động học sinh đóng góp sách cho thư viện. Tuy sách đã cũ đôi lúc sách bị rách nhưng giáo dục cho các em ý thức xây dựng thư viện, làm cho nguồn sách phong phú hơn, đồng thời các em có ý thức  hơn trong việc bảo quản và giữ gìn sách khi đọc.
- Tham gia công tác giới thiệu sách, hướng dẫn học sinh đọc sách.
- Phân phối, thu hồi, bảo quản và sử dụng sách giáo khoa.
2.3/ Chỉ đạo các hoạt động của Thư viện nhằm đạt hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
- Để đánh giá được một thư viên hoạt động có hiệu quả hay không, người ta không chỉ căn cứ vào số vốn tài liệu, cơ sở vật chất được trang bị cho thư viện mà còn căn cứ vào số lượng bạn đọc đến với thư viện nhiều hay ít. Đây là một điều mà tôi luôn nghĩ tới và bản thân đã có sự chỉ đạo, xác định nhiệm vụ của thư viện là phải luôn gắn bó mật thiết với nhiệm vụ dạy và học của nhà trường.
- Bám sát chủ đề từng tháng, từng năm học, chỉ đạo cho cán bộ thư viện phân chia lịch đọc cho từng lớp trong tuần. Tránh tình trạng học sinh vào thư viện ồ ạt gây mất trật tự, ảnh hưởng đến việc nghiên cứu tài liệu hoặc đọc sách của giáo viên.
- Cán bộ thư viện phải lập kế hoạch hoạt động của thư viện trong năm, học kỳ và từng tháng, trình phó hiệu trưởng phê duyệt. Tham khảo ý kiến Phó hiệu trưởng về những nội dung công tác lớn của thư viện trong năm cần phải làm.
- Tổ chức tuyên truyền, giới thiệu sách mỗi tháng một lần theo chủ điểm.
Ví dụ: “Về Bác Hồ kính yêu”, về ngày nhà giáo Việt Nam, về Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, về Đoàn TNCSHCM, về mẹ ... hoặc những loại sách phù hợp với đối tượng bạn đọc, có tính thời sự, nội dung thích hợp .
- Tổ chức thi kể chuyện theo sách, hoạt động này giúp cho học sinh có thói quen đọc sách và làm theo sách, mở rộng nhận thức cho các em về thế giới xung quanh, bồi dưỡng cho các em tình cảm lành mạnh, có những ước mơ đẹp và có mối quan hệ tốt với mọi người.
- Tổ chức điểm sách theo chủ đề, tức là trình bày nội dung một cuốn sách với một cuộc nói chuyện ngắn gọn với một chủ đề cho trước. Thường tổ chức ở khối 4 và khối 5 mỗi năm từ 1 đến 2 lần.
- Đối với học sinh lớp 1,2, 3 các em chưa đọc tốt nên cán bộ thư viên đã chọn những cuốn sách phù hợp, cho các em đọc lần lượt cho các bạn nghe, cán bộ thư viện uốn nắn cho các em về cách phát âm và khả năng đọc diễn cảm.
- Đối với giáo viên, ngoài các sách chuyên môn, nghiệp vụ, giáo viên còn được tham khảo các loại sách báo tài liệu bổ ích khác để nâng cao kiến thức cuộc sống của bản thân.
III/ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ VIỆC PHỔ BIẾN ỨNG DỤNG
1/ Kết quả
Đề tài này được áp dụng ở Trường Tiểu học thị trấn Đầm Dơi từ đầu năm hoc 2010 – 2011 đến nay đã đem lại những kết quả cụ thể như sau:
a/ Về tuyên truyền, vận động giáo viên, học sinh tặng sách cho thư viện
Năm học Số lượng sách cho thư viện
2009 - 2010 175 cuốn
2010 - 2011 850 cuốn
Qua bản trên cho thấy số sách giáo viên, học sinh tặng cho thư viện năm học 2010 – 2011 nhiều hơn năm học 2009 – 2010 là 675 cuốn.
b/ Về số lươt bạn đọc đến với thư viện
Năm học Số lượt bạn đọc/ tháng
Bình quân/ 1GV Bình quân/ 1HS
2009 - 2010 1,0 0,7
2010 - 2011 2,0 1,5
2011 - 2012 2,5 2,0
Qua bản trên cho thấy số lượt đọc sách bình quân/ 1GV và bình quân/1HS năm sau cao hơn năm trước rõ rệt.
Từ những kết quả trên có thể nói rằng đề tài này có tính khả thi và áp dụng đạt hiệu quả thiết thực.
          2/ Kết luận
          Thư viện là nơi cung cấp nền tảng kiến thức cho công tác giáo dục. Nhìn vào thư viên có thể đánh giá được sự quan tâm của người lãnh đạo nhà trường đối với chất lượng giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh hay không. Quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, sách, tài liệu cho thư viện, tổ chức khai thác nguồn sách để phục vụ giảng dạy và học tập trong nhà trường là những vấn đề đang được các nhà trường quan tâm.
          Qua thực tiễn làm công tác quản lý nhà trường, nhận thức được tầm quan trọng của công tác thư viện, bản thân tôi đã có những giải pháp để chỉ đạo, công tác thư viện của nhà trường đạt được hiệu quả khá cao.
          Hàng năm tiết kiệm được nguồn chi thường xuyên của tập thể để mua sắm thêm trang thiết bị, sách tham khảo, sách nghiệp vụ, báo cáo, tạp chí ... để đầu tư cho thư viện.
          Chỉ đạo hoạt động của thư viện với nhiều hình thức nhằm khai thác vốn tài liệu có trong thư viện đạt hiệu quả, phục vụ cho công tác giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh.
          Tổ chức quản lý việc bảo quản kho sách và tài liệu thư viện không để mất mát hư hỏng.
          Nhờ đó, công tác thư viện trường học những năm qua đạt kết quả khá cao.
          3/ Kiến nghị.
          - Hàng năm Phòng giáo dục cần hỗ trợ cho trường một phần kinh phí để mua sắm thêm trang thiết bị và tài liệu cho thư viện.
          - Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giới thiệu sách bằng nhiều hình thức khác nhau để cán bộ thư viện tham gia, rút kinh nghiệm học hỏi lẫn nhau.
          Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm của tôi về đề tài “Một số kinh nghiệm chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thư viện Trường Tiểu học thị trấn Đầm Dơi”. Rất mong được sự  góp ý của các đồng nghiệp, Hội đồng khoa học các cấp giúp tôi bổ sung, điều chỉnh đề tài này ngày càng hoàn chỉnh hơn.
 
                                                                    Thị trấn, ngày 7 tháng 12 năm 2011
                                                                              Người viết sáng kiến
                                                                                    Trần Út Đẹp

TÊN ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ THỰC HIỆN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC
CỦA CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRƯỜNG HỌC
Phần một.
ĐẶT VẤN ĐỀ
          1. Lí do chọn đề tài:
          Công đoàn được tổ chức theo hệ thống từ Trung ương tới cơ sở. Nhưng cấp Công đoàn cơ sở là nơi trực tiếp đối với công nhân, viên chức, lao động, là địa bàn hoạt động của Công đoàn cấp trên trực tiếp. Thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; nơi thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Công đoàn các cấp. Kiểm tra giám sát và thực hiện các chế độ chính sách pháp luật về quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động; tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh. Do đó, BCH Công đoàn cơ sở mà đứng đầu là Chủ tịch có vai trò quan trọng trong cơ quan đơn vị. Đây là lược lượng cốt cán trong việc tổ chức, triển khai thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ của Công đoàn các cấp. Tuy nhiên, một thực tế hiện nay ít ai mặn mà với nhiệm vụ của Chủ tịch Công đoàn cơ sở. Mặc dù, Chủ tịch thường là những người được đoàn viên tín nhiệm bầu vào BCH hoặc BCH bầu ra ban thường vụ mới bầu ra chức danh này. Chủ tịch Công đoàn phần lớn là cán bộ kiêm nhiệm, không chuyên trách. Đối với họ nhiệm vụ chuyên môn là việc sống còn  của bản thân, làm Chủ tịch Công đoàn là phải đảm đương chức trách của tập thể, gắn với tư cách đại diện cho người lao động. Hoạt động tại Công đoàn cơ sở là hoạt động quần chúng nhưng phải tuân theo pháp luật, Điều lệ, chủ trương của Công đoàn cấp trên. Do đó, nếu không nghiên cứu nắm bắt và thực hiện nguyên tắc nội dung phương pháp hoạt động thì sẽ dẫn đến lúng túng, thấy mọi việc đều dồn vai lên Chủ tịch, áp lực rất lớn. Áp lực từ Công đoàn cấp trên, Chi bộ, chính quyền địa phương và từ đoàn viên; nếu không cố gắng sẽ khó hoàn thành nhiệm vụ, dẫn đến mất niềm tin của đoàn viên lao động, ảnh hưởng đến uy tín bản thân.
          Từ nhận thức trên, nhằm góp phần nâng cao cho hoạt động Công đoàn cơ sở tốt hơn, nhất là vai trò Chủ tịch Công đoàn cơ sở. Từ đó tôi chọn đề tài: “Một số kinh nghiệm về thực hiện nội dung và phương pháp công tác của Chủ tịch công đoàn cơ sở trường học”, với mong muốn được chia sẻ trao đổi kinh nghiệm trong quá trình chỉ đạo xây dựng Công đoàn cơ sở vững mạnh.
          2. Thực trạng:
          Công đoàn cơ sở trường Tiểu học thị trấn chịu sự quản lý trực tiếp của Công đoàn ngành Giáo dục & Đào tạo Đầm Dơi.
          - Tổng số đoàn viên công đoàn là 55/40 nữ.
          - Số lượng BCH: 9/5 nữ.
          - Số tổ công đoàn: 7 tổ
          - Tổng số Đảng viên: 22/15nữ.
          - Trình độ chuyên môn:
          + Đại học: 22/14 nữ
          + Cao đẳng: 6/5 nữ
          + Trung học: 25/21 nữ.
          - Cán bộ làm công tác công đoàn chủ yếu là kiêm nhiệm.
          3. Những thuận lợi, khó khăn:
          Về thuận lợi:
          Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát, kịp thời của các cấp ủy Đảng, của Công đoàn ngành giáo dục và Liên đoàn lao động huyện và sự ủng hộ của Chính quyền, hỗ trợ tích cực của các ban ngành đoàn thể.
          Đội ngũ cán bộ Công đoàn được huy hoạch và quan tâm bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ nên phần lớn có trình độ năng lực và nhiệt tình với công tác Công đoàn.
          Đội ngũ cán bộ Công đoàn phát huy tính chủ động, sáng tạo và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong tổ chức các phong trào thi đua.
          Đội ngũ đoàn viên Công đoàn lớn mạnh và tha thiết với tổ chức Công đoàn.
          Về khó khăn:
          Tính ổn định của cán bộ Công đoàn chưa đảm bảo còn thay đổi qua các lần Đại hội. Một số cán bộ Công đoàn chưa thật sự phát huy vai trò của mình trong quan hệ với thủ trưởng cơ quan, còn nhận thức chưa đầy đủ về tổ chức Công đoàn là tổ chức đặt dưới sự lãnh đạo của đơn vị. Chỉ đạo tổ Công đoàn và các bộ phận của Công đoàn chưa xác định vị trí chức năng của mình trong công tác xây dựng Công đoàn cơ sở vững mạnh.
Phần hai
NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
          1. Nguyên nhân:
          Công đoàn cơ sở là nền tảng, là nơi triển khai mọi hoạt động của tổ chức Công đoàng đến đoàn viên, công nhân viên chức lao động. Đồng thời cũng là nơi gần gũi nhất, nắm rõ nhất diễn biến tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của Đoàn viên. Những năm qua chất lượng hoạt động của Công đoàn cơ sở trường Tiểu học thị trấn có những tiến bộ nhất định bởi có sự quan tâm của lãnh, chỉ đạo của Chi bộ Đảng, sự quan tâm của Chính quyền, Công đoàn và chính quyền có sự phối hợp chặt chẽ, đội ngũ cán bộ Công đoàn ổn định, có chuyên môn, các quyền lợi của đoàn viên được thực hiện đúng theo chế độ chính sách.
          Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy chất lượng hoạt động Công đoàn cơ sở trường học còn một số hạn chế mà nguyên nhân của nó là do bị chi phối nhiều bởi công tác chuyên môn, hạn chế nguồn kinh phí hoạt động và do đời sống của phần lớn cán bộ Công đoàn và đoàn viên công đoàn còn nhiều khó khăn. Điều đó làm cho một số cán bộ, đoàn viên công đoàn chưa thật sự an tâm công tác, đa số cán bộ Công đoàn còn thiếu nhiệt tình trong công tác Công đoàn, thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục chưa được quan tâm thường xuyên, chưa thành nề nếp, công tác quản lý hồ sơ, tài liệu, chế độ thông tin báo cáo chưa đảm bảo đúng quy định. Việc triển khai quy chế hoạt động của Ban chấp hành Công đoàn, quy chế phối hợp giữa Công đoàn và chính quyền chưa thực hiện tốt. Hoạt động Công đoàn cơ sở còn mang tính hình thức, không đảm bảo được nội dung, kế hoạch đã hướng dẫn, thiếu sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy Đảng, sự hỗ trợ tạo điều kiện của Chính quyền trong việc xây dựng Công đoàn cơ sở vững mạnh làm ảnh hưởng đến hoạt động Công đoàn tại cơ sở.
          Để khắc phục tình trạng trên từng bước nâng cao chất lượng hoạt động của Công đoàn cơ sở đạt vững mạnh. Bản thân là Chủ tịch Công đoàn cơ sở trường học, qua nhiều năm công tác và học hỏi kinh nghiệm về nghiệp vụ công tác Công đoàn, tôi đề ra một số nội dung phương pháp hoạt động của Chủ tịch Công đoàn cơ sở trường học như sau:
          2. Giải pháp:
          Chủ tịch Công đoàn cơ sở trường học trước tiên phải nhiệt tình, gương mẫu, không vụ lợi, trung thực, thẳng thắn, có năng lực về chuyên môn nghiệp vụ, phải là giáo viên, giảng dạy khá, giỏi mới được đoàn viên tin yêu, tín nhiệm. Hoạt động của Công đoàn ở trường học là phong phú, đa dạng, nhưng cũng rất phức tạp, khó khăn. Nếu chủ tịch Công đoàn nhiệt tình thì mới phát huy được vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của Ban chấp hành, của các Ban quần chúng và Tổ trưởng Công đoàn, vận động đoàn viên thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của Công đoàn. Chủ tịch Công đoàn là người đứng đầu Ban chấp hành, mọi hành động đều có tác dụng hướng dẫn, động viên, giáo dục thuyết phục đoàn viên, cho nên phải gương mẫu trong giảng dạy, giáo dục trong sinh hoạt và hưởng thụ thì mọi việc làm của chủ tịch Công đoàn mới có kết quả. Với chức năng của Công đoàn, Chủ tịch phải hết lòng vì lợi ích của đoàn viên, phải quan tâm đến công việc của cuộc sống đời thường, lúc vui buồn thậm chí cả những khi gặp điều bất hạnh, chủ tịch công đoàn cần động viên và có những chỉ dẫn cần thiết. Trong trường hợp quyền lợi  của đoàn viên bị vi phạm đòi hỏi chủ tịch công đoàn phải có bản lĩnh thẳng thắn đấu tranh, có phương pháp giải quyết đúng đắn để bảo vệ lẽ phải, lợi ích chính đáng của anh chị em cán bộ, giáo viên, công nhân viên.
          Chủ tịch công đoàn phải nắm vững được năng lực, tâm tư nguyện vọng của từng đoàn viên, năng động, sáng tạo chọn được việc làm thiết thực và thực hiện có kết quả nhiệm vụ chính trị của nhà trường, xây dựng đội ngũ, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ giáo viên, công nhân viên. Căn cứ vào chức năng của tổ chức công đoàn, nhiệm vụ kế hoạch của trường, chủ tịch công đoàn chọn những việc làm thiết thực, cùng Hiệu trưởng tổ chức cho giáo viên tham gia tháo gỡ khó khăn trong giảng dạy, học tập và công tác, sắp xếp lao động hợp lý để phát huy năng lực của từng người, động viên giáo viên tự học, tự rèn luyện, nâng cao tay nghề, nâng cao tinh thần trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đồng thời Chủ tịch công đoàn cùng Hiệu trưởng chăm lo đến những lợi ích thiết thực hàng ngày của đoàn viên và lao động, kết hợp hài hòa giữa lợi ích, nghĩa vụ và quyền lợi làm cho cán bộ, đoàn viên và lao động tin tưởng, gắn bó với tổ chức công đoàn.
          Chủ tịch Công đoàn giữ mối liên hệ mật thiết với đoàn viên, giáo viên, công nhân viên và tổ chức cho họ hành động. Mọi hoạt động của nhà trường và công đoàn đều liên quan trực tiếp đến tình hình tư tưởng của cán bộ đoàn viên. Có việc làm của nhà trường và công đoàn được cán bộ đoàn viên hưởng ứng thực hiện, có việc làm anh chị em thờ ơ, coi đó là công việc của hiệu trưởng và Ban chấp hành Công đoàn, thậm chí có việc làm anh chị em phản ứng coi đó là hình thức hoặc mang nặng tính áp đặt,…Vì vậy, Chủ tịch Công đoàn phải thường xuyên giữ mối liên hệ mật thiết với đoàn viên và lao động để nắm vững, yêu cầu tâm tư nguyện vọng của từng đoàn viên bằng cách gặp gỡ trong giờ, ngoài giờ làm việc hoặc thông qua tổ chức công đoàn, mạng lưới quần chúng để tiếp nhận và có biện pháp giải quyết thỏa đáng những yêu cầu của anh chị em. Chủ tịch Công đoàn phải quan tâm bồi dưỡng đoàn viên nâng cao trình độ mọi mặt, động viên họ làm tròn trách nhiệm nghĩa vụ lao động, cùng Ban giám hiệu phát huy quyền làm chủ, tham gia quản lý trường học, thực hiện quyền giám sát kiểm tra, việc thực hiện các chế độ chính sách và pháp luật. Tổ chức cho đoàn viên tham gia hoạt động công đoàn, thực hiện dân chủ công khai, tạo điều kiện cho họ chấp hành đúng chế độ chính sách pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế trường học.
          Chủ tịch Công đoàn phải xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn và xem đây là nhân tố quyết định thực hiện mọi nhiệm vụ công tác của công đoàn. Chủ tịch công đoàn phải thường xuyên quan tâm hướng dẫn sinh hoạt tổ công đoàn, hướng dẫn các ban quần chúng biết cách hoạt động, tạo điều kiện nâng cao năng lực và phương pháp hoạt động của công đoàn. Kịp thời động viên những người tận tụy, gương mẫu và làm tốt các mặt công tác của công đoàn. Chủ tịch phân công các Ủy viên BCH rõ nhiệm vụ cụ thể từng người, hàng tháng, hàng quý có kiểm điểm việc thực hiện chương trình công tác.
          Chủ tịch Công đoàn phải xây dựng mối quan hệ công tác chặt chẽ với Hiệu trưởng để thực hiện tốt các mặt công tác trong trường: tham gia xây dựng các quy chế, quy định, nội quy quản lý nhà trường và giải quyết mối quan hệ phối hợp công tác giữa BCH công đoàn cơ sở với Hiệu trưởng. Chủ tịch Công đoàn căn cứ vào Điều lệ nhà trường, căn cứ vào Luật Công đoàn, chế độ chính sách trong ngành, những quy định về sự phối hợp công tác giữa chính quyền  và công đoàn cấp trên trong ngành giáo dục để cùng nhà trường xây dựng những nội quy, quy chế, quy định sát hợp với tình hình của trường về: quản lý lao động, bảo vệ tài sản nhà trường, nâng bậc lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể, nhà ở, khen thưởng thi đua, quy chế phối hợp giữa chính quyền và công đoàn, phân rõ quyền và trách nhiệm của mỗi tổ chức cụ thể là quy chế dân chủ cơ sở làm cho kỷ cương nề nếp nhà trường được tôn trọng và phát huy được tính tự giác và tinh thần làm chủ của cán bộ đoàn viên.
          Công tác xây dựng tổ chức công đoàn cơ sở vững mạnh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của một tổ chức. Trước hết cần xác định rõ: Công đoàn cơ sở là nền tảng của tổ chức công đoàn, là nơi vận động thực hiện chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, của cơ quan đơn vị và các nghị quyết của Công đoàn cấp trên. Tổ chức công đoàn là chỗ dựa vững chắc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho cán bộ giáo viên công nhân viên lao động, phải quan tâm thường xuyên thăm hỏi ốm đau; tổ chức các hoạt động thể thao, vui chơi giải trí giúp cán bộ, CNVCLĐ hoàn thành tốt nhiệm vụ.
          Hai là để tổ chức công đoàn cơ sở vững mạnh thì phải có bộ máy tổ chức vững mạnh. Vì thế mỗi thành viên trong BCH công đoàn phải gương mẫu, không ngừng nghiên cứu, học tập, trao dồi đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn, hướng dẫn truyền đật những kiến thức bổ ích cho cán bộ, công đoàn viên, thế hệ tiếp bước.
          Bên cạnh giữa công đoàn và lãnh đạo cơ quan đơn vị phải có mối quan hệ chặt chẽ, xây dựng quy chế phối hợp nhằm đảm bảo sự gắn kết, luôn được hỗ trợ cần thiết.
Phần ba
KẾT QUẢ VÀ PHỔ BIẾN ỨNG DỤNG
          1. Kết quả:
Năm học Kết quả đạt được
2003 – 2004
2004 – 2005
2005 – 2009
                    2010 – 2011
Công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc
Công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc
Công đoàn cơ sở vững mạnh 5 năm
Công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc
 
          2. Phổ biến ứng dụng:
          Được sự thống nhất của Chi bộ, Ban giám hiệu trường Tiểu học thị trấn trong các năm học vừa qua tôi đã ứng dụng: “Một số kinh nghiệm về việc thực hiện nội dung và phương pháp công tác của Chủ tịch Công đoàn cơ sở trường học” vào công tác Công đoàn của trường và đạt nhiều kết quả khả quan.
          a. Về phía chi bộ:
          Hàng năm đều đạt Chi bộ trong sạch vững mạnh
          b. Về phía Nhà trường:
          Nhiều năm liền đều đạt danh hiệu trường tiên tiến, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dạy và học, duy trì tốt các phong trào thi đua “Hai tốt”.
          c. Về phía đoàn viên:
          Có 24/53 đạt giáo viên giỏi cấp huyện, có 11/53 đạt giáo viên giỏi cấp tỉnh. Đặc biệt, có 1/47 đạt giáo viên giỏi cấp quốc gia. Và có 13/53 đạt giáo viên viết chữ đẹp vòng huyện, có 8/47 đạt giáo viên viết chữ đẹp vòng Tỉnh.
          Để không ngừng nâng cao năng lực hoạt động của Chủ tịch Công đoàn cơ sở trường học, góp phần tích cực vào việc đổi mới nội dung phương pháp hoạt động công đoàn và xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh, tôi có một số kiến nghị như sau:
          Hàng năm Công đoàn cấp trên tổ chức rút kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của các công đoàn cơ sở vững mạnh, nội dung và phương pháp công tác của Chủ tịch công đoàn, tổng kết những bài học kinh nghiệm nhân rộng trên địa bàn huyện và tỉnh.
          Các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp cần quan tâm đến tổ chức công đoàn cơ sở đúng với vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công đoàn. Việc quy hoạch cán bộ công đoàn có tính ổn định lâu dài, có tính kế thừa nhất là Chủ tịch Công đoàn.
          Cần có cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích của cán bộ Công đoàn khi bị xâm hại, đặc biệt là cán bộ công đoàn, đoàn viên công đoàn dám đấu tranh chống tiêu cực quan liêu tham nhũng, dám bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng hợp pháp của đoàn viên.
          Tăng cường sự phối hợp hoạt động giữa công đoàn và chính quyền nhằm hoàn thành nhiệm vụ chính trị cơ quan trường học.
          Trên đây là một số kinh nghiệm, công tác của Chủ tịch công đoàn cơ sở trường học xin được chia sẻ với mong muốn góp phần thiết thực vào công tác hoạt động Công đoàn trong giai đoạn đổi mới hiện nay đạt hiệu quả.
                                                          Thị trấn, ngày 09 tháng12 năm 2011
                                                                    Người viết sáng kiến
                                                                          Diệp Thanh Hải


Một số biện pháp rèn luyện chữ viết cho học sinh lớp 1
ở trường Tiểu học
 
PHẦN MỞ ĐẦU
 
          Vấn đề chữ viết người xưa rất coi trọng, cha, ông ta dùng câu thành ngữ “Văn hay, chữ tốt” để khen người viết chữ đẹp, học rộng, tài cao, Đặc biệt cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng rất quan tâm đến vấn đề này “Chữ viết cũng là biểu hiện của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, tính kỷ luật, lòng tự trọng đối với mình, cũng như đối với thầy, cô và bạn đọc bài vở của mình”. Điều đó chứng tỏ vấn đề chữ viết được đặc biệt quan tâm đối với học sinh.
Có thể nói, chữ viết phản ánh được trình độ văn hóa của một con người, cũng như một xã hội, không những chữ viết để làm phương tiện giao tiếp, học tập nghiên cứu, truyền thụ tri thức, mà chữ viết còn thể hiện óc sáng tạo, tính thẩm mỹ của một con người.
Ngày nay, mặc dù có nhiều phương tiện in ấn hiện đại, song chữ viết vẫn có vai trò vô cùng quan trọng đối với xã hội, nhất là đối với công tác giáo dục nói chung và công tác học tập nói riêng.
“Nét chữ, nết người”. Đã qua có nhiều thế hệ thầy cô giáo trăn trở suy nghĩ góp nhiều công sức sáng tạo kiểu chữ, thay đổi mẫu chữ và phương pháp dạy tập viết với mục đích duy nhất là giúp cho học sinh viết đúng, viết đẹp, viết nhanh.
Thực tế trong thời gian qua việc viết chữ đẹp, trình bày bài viết của học sinh trong trường Tiểu học được quan tâm chỉ đạo thực hiện thành phong trào sôi nổi trong học sinh, giáo viên, cũng chính từ phong trào này hàng năm có nhiều học sinh giáo viên tham gia  dự thi viết chữ đẹp, cấp trường, cấp huyện, cấp tỉnh và đạt được nhiều thành tích cao, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Tuy nhiên, nhìn một cach tổng thể thì hiện nay việc rèn luyện chữ viết cho học sinh Tiểu học Tiểu học nói chung, lớp 1 nói riêng được giáo viên quan tâm rèn luyện thường xuyên trong các giờ dạy.
Nhiều giáo viên chạy theo thành tích, năm nào đến phong trào thi viết chữ đẹp thì giáo viên mới tập trung rèn luyện một số học sinh để tham gia dự thi, chính vì lẽ đó làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh. Những tồn tại và bất cập trên có thể rút ra  những nguyên nhân cụ thể như sau:
Nguyên nhân khách quan:
Một phần lớn học sinh vào học lớp một chưa qua lớp mẫu giáo, khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển nhanh, nhiều phương tiện in ấn hiện đại làm cho phụ huynh ít quan tâm đến chữ viết.
Nguyên nhân chủ quan:
Nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của chữ viết chưa đúng, từ đó một bộ phận giáo viên, chưa quan tâm đến việc giảng dạy và rèn luyên chữ viết cho học sinh viết đúng viết đẹp, viết nhanh, coi phân môn tập viết là phụ.
 Bản thân tôi là giáo viên dạy lớp1 nhiều năm qua, tôi luôn tâm niệm rằng: cần phải coi trọng việc dạy cho học sinh viết đúng, viết rõ ràng, viết cẩn thận, viết đẹp ngay từ lớp 1. Bởi lẽ, chữ viết của học sinh có quan hệ mật thiết đến chất lượng học tập ở các môn học khác. Nếu chữ viết đúng mẫu, rõ ràng, tốc độ nhanh thì học sinh có điều kiện ghi bài tốt, nhờ vậy mà kết quả học tập của học sinh tốt hơn.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, là giáo viên được phân công giảng dạy lớp 1 ở trường Tiểu học tôi trăn trở trước trách nhiệm của mình. Vì vậy tôi chọn đề tài viết sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp rèn luyện chữ viết cho học sinh lớp 1ở trường Tiểu học”. Với mong muốn sẽ góp phần thúc đẩy vào việc rèn luyện chữ viết cho học sinh lớp 1 ngày càng đạt hiệu quả tốt hơn, tạo tiền đề cho việc học tập lâu dài của học sinh.
 
PHẦN NỘI DUNG
 
MỘT SỐ BIỆN PHÁP REN LUYỆN CHỮ VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
Cha, ông ta từ xưa đã quan niệm “Nét chữ, nết người”. Thật vậy, rèn chữ viết chính là rèn tính cẩn thận cho học sinh, rèn chữ không chỉ giúp cho học sinh viết đẹp mà còn góp phần giúp cho học sinh học tốt các môn học khác. Hơn thế nữa học sinh lớp 1 là nền tảng cho các lớp học sau, đây là những con chữ đầu tiên của các em, nếu như không rèn luyện ngay từ đầu lớp 1 thì lên lớp trên  sẽ trở thành thói quen và rất khó thay đổi. Để rèn chữ viết cho học sinh lớp 1 đạt hiệu quả tốt trong quá trình giảng dạy tôi áp dụng một số biện pháp cụ thể sau:       1. Khảo sát tình hình của lớp
Khi được phân công dạy lớp 1, ngay từ đầu năm học việc làm đầu tiên tôi cho là quan trọng, đó là khảo sát nắm tình hình của lớp của từng học sinh về: giao tiếp, điều kiện hoàn cảnh gia đình, khả năng viết chữ, sự quan tâm của gia đình đến điều kiện học tập của các em, dụng cụ học tập, bao nhiêu học sinh viết được chữ cái, bao nhiêu học sinh chưa viết được, bao nhiêu học sinh viết nhanh, viết đúng, viết đẹp. Từ việc khảo sát nắm được thực trạng trên để làm cơ sở cho tôi xây dựng kế hoạch và đưa ra biện pháp để rèn luyện chữ viết cho học sinh, kế hoạch này được trao đổi bàn bạc với phụ huynh học sinh, giáo viên dạy bộ môn năng khiếu ngay từ cuộc họp đầu năm để đi đến thống nhất, sau đó tôi phổ biến đến học sinh trong lớp.
 
 
 
2. Hướng dẫn kỷ năng cơ bản cần thiết để chuẩn bị cho quá trình dạy tập viết và rèn luyện chữ viết cho học sinh
Điều đầu tiên tôi hướng dẫn cho học sinh tư thế ngồi viết: ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, không tỳ ngực vào cạnh bàn, đầu hơi cúi, mắt cách vở từ 25cm đến 30cm, cánh tay trái đặt trên mặt bàn bên trái lề vở, bàn tay trái tỳ vào mép vở giữ cho vở không bị xê dịch khi viết, cánh tay phải cũng ở trên mặt bàn, khi viết bàn tay, cánh tay phải có thể dịch chuyển từ trái sang phải và từ phải sang trái dễ dàng. Vì là đầu năm học, học sinh lớp 1 viết bằng bút chì, tôi luôn hướng dẫn học sinh chuốt bút chì sao cho đầu bút chì không quá nhọn vì khi di chuyển bút trên giấy khó, dễ gãy ngòi và xước giấy, đầu bút quá to làm nét chữ lớn không đẹp, vở bị dơ. Việc dùng tẩy để bôi chữ sai sao cho nhẹ nhàng không làm dơ tập, rách giấy.
Tiếp theo hướng dẫn học sinh cách cầm bút: Cầm bút bằng 3ngón tay của bàn tay phải: ngón trỏ, ngón cái và ngón giữa, đầu ngón trỏ đặt trên thân bút, đầu ngón cái giữ bên trái thân bút, đầu ngón giữa tựa vào bên phải thân bút, khi viết 3ngón tay này giữ bút và điều khiển bút dịch chuyển. Ngoài ra cần có sự phối hợp của cổ tay, cánh tay, khủy tay khi viết.
Hướng dẫn các em xác định đường kẻ, dòng kẻ. Việc nhận biết chính xác thứ tự 5 dòng kẻ ngang 4 dòng kẻ dọc sẽ giúp cho học sinh và giáo viên rất nhiều trong việc dạy và tập viết chữ đúng, chữ đẹp.
Ở giai đoạn này tôi dành thời gian hợp lí để hướng dẫn học sinh tư thế ngồi, cách cầm bút không chỉ hướng dẫn trong giờ tập viết mà hướng dẫn ở tất cả các giờ học trong ngày, mỗi giờ học, mỗi buổi học khi phát hiện học sinh ngồi không đúng tư thế, cầm bút sai là tôi nhắc nhở, sửa sai cho các em và cứ như vậy cho đến khi đạt yêu cầu.
3. Rèn chữ viết cho học sinh
Rèn chữ viết cho học sinh trong nhà trường là vô cùng quan trọng để giúp học sinh viết đúng cỡ chữ, viết đẹp, viết nhanh thì không thể coi thường phần luyện viết nét cơ bản, có 13 nét cơ bản mà tôi yêu cầu học sinh phải nhớ và tập luyện viết chính xác: Nét ngang, nét thẳng, nét xiên trái, nét xiên phải, nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu, nét cong hở phải, nét cong hở trái, nét cong kín, nét khuyết trên, nét khuyết dưới, nét thắt. Từ những nét cơ bản này, học sinh viết sang chữ rất dễ dàng vì đã định hướng được chữ cần viết gồm những nét nào ráp lại và kết hợp dạy cho học sinh phân biệt được độ cao, độ rộng của từng nhóm nét cơ bản.
Ví dụ: Nhóm nét cong thường có độ cao 1đơn vị, nhóm nét khuyết có độ cao 2,5 đơn vị
Mỗi nét khi dạy tôi đều đưa ra hệ thống dấu chấm từ lúc đặt bút đến vị trí đưa bút đi qua rồi đến vị trí dừng lại.
Ở giai đoạn này tôi xác định là rất quan trọng đối với học sinh trong thời kì đầu của lớp 1. Vì vậy tôi quan tâm theo sát từng đối tượng học sinh để hướng dẫn các em luyện viết, uốn nắn kịp thời đối với những học sinh viết chưa chuẩn, viết yếu.
Để có định hướng đúng về chữ viết đẹp, vở sạch, trước khi dạy viết, tôi đã giới thiệu cho các em xem những cuốn vở sạch, chữ đẹp của các anh chị học sinh năm trước, từ đó khơi gợi ở các em động lực, niềm say mê rèn chữ viết. Quá trình dạy viết chữ và rèn viết chữ trên lớp tôi tiến hành qua các bước như sau:
+ Dựa vào mẫu chữ và tập cho học sinh thói quen đọc thầm, phân tích hình dáng, cấu tạo, độ cao chữ sắp viết.
+ Viết mẫu trên bảng thật là chậm, đúng theo quy tắc với nét chữ chuẩn và chân phương, học sinh sẽ tận mắt nhìn thấy tay cô đang viết từng nét chữ.Ở đây theo kinh nhiệm của bản thân thì việc hướng dẫn học sinh nhận ra cách nối nét sao cho đẹp là yếu tố quan trọng góp phần rèn nét chữ viết đẹp của học sinh. Bởi vậy nên tôi luôn giúp học sinh nhận ra điểm chưa đẹp khi nối nét mà các kiểu nối sau đây khi dạy phải chú ý.
Trường hợp: Nét móc cuối cùng của chữ cái trước nối với nét móc (hoặc nét hất) đầu tiên của các chữ sau: a-n, i-m, a-i, t-ư… Khi nối học sinh cần điều tiết về độ dãn giữa 2chữ cái sao cho vừa phải, hợp lí để chữ viết đều nét và có tính thẩm mỹ.
Trường hợp: Nét cong cuối cùng của chữ cái trước nối với nét móc (hoặc nét hất) đầu tiên các chữ cái sau: e-m, ơ-n, o-i, c-ư…Giáo viên hướng dẫn cho học sinh chuyển hướng ngòi bút ở cuối nét cong nối sang nét móc (nét hất) để hình dạng 2chữ cái vẫn rõ ràng, điều chỉnh khoảng cách giữa 2chữ cái sao cho không quá gần hay quá xa.
Trường hợp: Nét móc (hoặc nét khuyết) của chữ cái trước nối với nét cong của chữ cái sau: a-c, h-o, g-a, y-ê…Giáo viên hướng dẫn điều chỉnh phần cuối nét móc của 2chữ cái trước hơi ngã ra để khoảng cách không bị sát.
Trường hợp: Nét cong của chữ cái trước nối với nét cong của chữ cái sau: o-e, o-a, x-o, e-o… Giáo viên hướng dẫn học sinh rê bút từ o trút xuống để gặp điểm bắt đầu của chữ cái e sao cho dòng ở đầu chữ cái o không to quá; rê nét bút từ chữ cái o sang ngang rồi lia bút viết tiếp chữ cái a.
Hướng dẫn cho học sinh tập viết trên bảng con: Có thể nói bảng con là phương tiện tối ưu nhất giúp cho giáo viên chỉnh sửa kịp thời, nhanh chóng những lỗi sai của học sinh để đến khi viết vào vở sẽ đúng và hạn chế tẩy sửa.
Học sinh viết vào vở: Khi viết tôi hướng dẫn cho học sinh từng chữ, từng dòng trong thời gian học sinh viết giáo viên theo dõi kiểm tra để chỉnh sửa cho các em. Khi viết tôi luôn nhắc nhở học sinh giữ gìn vở viết cẩn thận, không để vở quăn góc…
Đến giai đoạn viết bút mực tiến đến viết chữ nhỏ tôi quy định thống nhất cho cả lớp chỉ sử dụng một màu mực, giới thiệu một số bút viết nét đẹp để phụ huynh mua cho các em. Trong quá trình viết bút mực tôi luôn dặn dò học sinh phải cẩn thận trong khi viết để hạn chế tối đa sự sai sót. Nếu khi viết có sai sót, không được tẩy xóa, viết chồng lên, mà các em dùng bút chì và thước kẻ gạch ngang lên chữ viết sai rồi viết lại chữ đúng bên cạnh. Ở giai đoạn này một số học sinh gặp khó khăn khi viết chữ ô li chính vì vậy tôi quan tâm theo sát để giúp đỡ các em, kịp thời điều chỉnh khi các em viết chữ không đều nét, sai độ cao, sai khoảng cách. Việc dạy cho học sinh viết đúng, viết đẹp tôi không chỉ quan tâm rèn luyện ở phân môn Tập viết mà đối với các môn học khác tôi cũng luôn nhắc nhở và hướng dẫn cho học sinh phải có ý thức rèn luyện.
4. Đối với bản thân giáo viên (Phương pháp nêu gương)
Bản thân tôi luôn cố gắng rèn luyện chữ viết của mình thể hiện qua từng bài dạy, cách trình bày bảng phải rõ ràng, khoa học, chữ viết đúng mẫu để học sinh noi theo. Đồng thời trong quá trình giảng dạy tôi chỉnh sửa những lỗi viết sai của học sinh trong lúc chấm, trả bài một cách cụ thể, rành mạch bằng cách: gạch dưới con chữ sai, nét chữ sai và viết mẫu lại, ghi lời nhận xét, chấm điểm để giúp cho các em khắc phục nhanh chóng và viết tiến bộ hơn.
Ngoài việc giáo viên rèn luyện chữ viết để cho học sinh noi theo trong giảng dạy tôi luôn động viên, khuyến khích, biểu dương học sinh nhằm động viên khích lệ học sinh viết tốt, tổ chức thi đua giữa cá nhân với cá nhân, tổ với tổ để khơi dậy ý thức phấn đấu cao hơn, thích học, thích viết hơn, chăm rèn luyện hơn.
5. Đối với phụ huynh học sinh
- Tạo cho các em có góc học tập ở gia đình hợp lí.
- Quản lí, theo dõi, giúp đỡ cho các em học và rèn viết chữ.
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
1.     Kết quả đạt được:
Mặc dù trong điều kiện còn gặp nhiều khó khăn nhưng với sự quyết tâm và từ khi áp dụng một số biện pháp trên thì chất lượng chữ viết của học sinh lớp tôi không ngừng được tiến bộ góp phần nâng cao chất lượng học tập ngày càng tốt hơn.
Năm học Số HS Xếp loại VSCĐ Thi VCĐ cấp trường Thi VCĐ cấp huyện Số HS được công nhận Vở sạch chữ đẹp
A B C Số lượng Đạt giải Số lượng Đạt giải
2008-2009 35 22 11 2 19 19 3 3 22
2009-2010 35 24 11   19 19 5 5 24
2010-2011 37 24 13   20 20 4 4 24
2011-2012 40       22 22      
 
2.     Phổ biến ứng dụng:
Sáng kiến này được triển khai ứng dụng thực tiển từ năm học 2008- 2009 đến nay tại lớp 1 trường Tiểu học Thị Trấn đem lại hiệu quả cao và có thể áp dụng rộng rãi trong phạm vi toàn huyện.
3.     Kết luận:
Viết nhanh, đúng, đẹp là hành trang theo suốt quãng đời học tập của học sinh. Vì vậy ngay từ lớp 1 các em cần phải được quan tâm, rèn luyện chữ viết thật tốt để làm nền móng vững chắc cho các em thực hiện được những ước mơ, hoài bão trên con đường học tập để góp phần phục vụ cho quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp.
4.     Đề xuất kiến nghị:
Mỗi năm học nên tổ chức hội thi “Viết chữ đẹp” ở các cấp trường, huyện, tỉnh để tất cả giáo viên và học sinh luôn luôn cố gắng rèn chữ viết của mình.
 
 
                                                                 Thị Trấn ngày 30 tháng 11 năm 2011
                                                                              Người viết sáng kiến
                                                                                       Nguyễn Thị Ngọc Tươi


Một số biện pháp quản lí, chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở trường Tiểu học Thị Trấn Đầm Dơi năm học 2009-2010
Phần một
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục trẻ em là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng mà cả xã hội quan tâm, bởi vì “Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai”. Để ngày mai thế giới có những người chủ xứng đáng, xã hội có những người công dân tốt thì chỉ ngày hôm nay - khi trẻ em là những mầm non mới nhú, thế hệ đi trước phải có trách nhiệm dạy dỗ, hướng dẫn trẻ em đi đúng hướng. Đúng như lờ Bác Hồ dạy: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người’’. Thời thơ ấu rất quan trọng đối với sự phát triển nhân cách con người. Đứa trẻ ngày hôm nay và sau này trở thành người như thế nào là tuỳ thuộc một phần ở chỗ các em đã trải qua ngày thơ ấu như thế nào, ai là người dìu dắt các em trong những ngày thơ bé, những gì của thế giới xung quanh đi vào trái tim của em.
Mặc dù nhiệm vụ giáo dục trẻ em được cả xã hội quan tâm nhưng quan trọng hơn cả vẫn là nhà trường, đặc biệt là trường tiểu học. Có điều này bởi vì nhà trường nói chung và trường tiểu học nói riêng là nơi kết tinh trình độ văn minh của xã hội trong công tác giáo dục trẻ em. Trường tiểu học chân chính không chỉ là nơi trẻ tiếp thu kiến thức khoa học mà còn là nơi giáo dục các em trở thành người có ích cho xã hội. Vì vậy, trẻ  em phải được giáo dục toàn diện. Bác Hồ đã nói: “Người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó. Người có tài mà không có đức là người vô dụng”. Do đó, ở nhà trường tiểu học nhiệm vụ dạy trẻ các tri thức khoa học và phẩm chất đạo đức là hai nhiệm vụ song song không thể thiếu được.
Đào tạo những con người có học thức, những người giỏi là nhiệm vụ quan trọng của nhà trường và chức năng chính của nhà trường là dạy học. Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò là 2 hoạt động trung tâm của một quá trình dạy học và là 2 hoạt động mang tính chất khác nhau trong mối quan hệ qua lại giữa thầy và trò. Hoạt động dạy và học tô đậm chức năng xã hội của nhà trường, đặc trưng cho nhiệm vụ của nhà trường và là hoạt động trung tâm, là cơ sở khoa học của các hoạt động khác của trường tiểu học Thị Trấn.
Ngày nay trong đời sống công nghệ và khoa học phát triển, những người làm công tác quản lí trong các nhà trường tiểu học phải hiểu được một cách sâu sắc hơn ai hết về tầm quan trọng của đội ngũ giáo viên trong sự nghiệp giáo dục nói chung và trong sự tồn tại và phát triển của trường mình nói riêng. Vì vậy, việc bồi dưỡng giáo viên và những biện pháp quản lý và chỉ đạo làm sao để nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của các cấp cán bộ quản lí giáo dục hiện nay. Chính vì vậy, tôi xin đưa ra: “Một số biện pháp quản lí, chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở trường Tiểu học Thị Trấn Đầm Dơi năm học 2009-2010”. Tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các đồng chí lãnh đạo phòng GD&ĐT và các bạn đồng nghiệp để đề tài tham luận của tôi được hoàn thành và xác định có hiệu quả.
Phần thứ hai
NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Cơ sở khoa học.
Học sinh tiểu học ngày nay không thể thiếu một trình độ văn hoá phổ thông mà được lĩnh hội từ nhà trường. Hoạt động dạy và học ở trường đem lại cho học sinh một vốn văn hoá tuy chưa phải là đủ cho cuộc đời các em, nhưng cũng tương đối hoàn chỉnh có hệ thống và cơ bản làm cơ sở ban đầu rất quan trọng trong hình thành nhân cách cho học sinh, để từ đó các em lao động và tiếp tục học tập sau này.
Trong phạm trù giáo dục thì giáo dục trí tuệ là khâu quan trọng nhất. bởi vì nó bao gồm việc tiếp thu tri thức và hình thành thế giới quan khoa học để phát triển các năng lực nhận thức và sáng tạo. Để có được điều đó, các em phải được đến trường để học “ Nhà trường hoạt động dạy và học là một con đường quan trọng nhất để giáo dục trí tuệ”.
2. Cơ sở thực tiễn.
Nhiệm vụ của hoạt động dạy và học ở trường tiểu học là làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống cơ bản về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, trong lao động và trong cuộc sống của học sinh. Trong những kỹ năng cần được rèn luyện cho học sinh thì quan trọng nhất là làm cho học sinh có được kỹ năng học tập để thực hiện “Hình thành hoạt động học tập”.
- Hoạt động chủ đạo của các em trong thời kỳ này là:
Dạy kiến thức văn hoá phải đi đôi với sự hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, lòng yêu tổ quốc và chủ nghĩa xã hội…những phẩm chất này phải trở thành động cơ, mục đích học tập của học sinh trong nhà trường và định hướng hoạt động của học sinh trong cuộc đời.
Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò là hai hoạt động trung tâm của một quá trình dạy học và là hai hoạt động mang tính chất khác nhau. Song nó thống nhất với nhau trong mối quan hệ qua lại giữa thầy và trò, dạy và học cùng lúc diễn ra trong những điều kiện vật chất kỹ thuật nhất định.
Nếu xét quá trình dạy và học như là một hệ thống thì trong đó quan hệ giữa hoạt động dạy của thầy với hoạt động học của trò thực chất là mối quan hệ điều khiển với tác động sư phạm của mình.
II. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ DẠY VÀ HỌC
A. QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY CỦA THẦY:
1. Thực hiện chương trình dạy học.
Chương trình dạy học là pháp lệnh của nhà nước do Bộ GD&ĐT ban hành. Người quản lí trong nhà trường phải nắm vững và làm cho toàn thể giáo viên cùng nắm vững. Với tư cách là người lãnh đạo và chịu trách nhiệm cao nhất về chuyên môn trong nhà trường, người quản lý phải điều khiển hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò theo những yêu cầu, nội dung, hướng dẫn của trương trình dạy học. Sự nắm vững chương trình dạy học của người quản lý để quản lí giáo viên thực hiện tốt chương trình dạy học.
Muốn được như vậy, ngay từ đầu năm học, Hiệu trưởng phổ biến đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học, những sửa đổi trong chương trình sách giáo khoa. Đặc biệt về chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình các môn học.
Hàng tháng, hết học kỳ và cuối năm học, Ban lãnh đạo nhà trường sẽ kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện chương trình dạy học từng môn của từng khối lớp thông qua phân phối chương trình và thời khoá biểu, sổ gọi tên ghi điểm của từng khối lớp, kể cả giáo viên dạy chuyên.
Từ đó, Ban lãnh đạo nhà trường nhận xét, phát hiện những vấn đề cần uốn nắn. Lãnh đạo nhà trường nghiêm cấm việc cắt xén, dồn bài, thêm bớt tiết của bất cứ môn học nào một cách tuỳ tiện của giáo viên.
Chỉ có thực hiện đúng đủ chương trình dạy học thì những cơ sở khoa học, tính chất giáo dục toàn diện, mục đích đào tạo của chương trình dạy học mới trở thành hiện thực.
“Yêu cầu cơ bản nhất, quan trọng bao trùm toàn bộ chương trình giảng dạy là đào luyện con người toàn diện về đức, trí , thể, mĩ, là xây dựng cho học sinh thành những con người mới, có tình cảm tốt đẹp, có tri thức đầy đủ để đáp ứng được những đòi hỏi của việc xây dựng chế độ mới của chúng ta.
Muốn làm tốt điều này Ban lãnh đạo nhà trường cùng các tổ trưởng chuyên môn phân công nhau theo dõi, nắm tình hình thực hiện chương trình dạy học hàng tuần, hàng tháng. Sử dụng các biểu bảng, lịch kiểm tra học tập, sổ thăm lớp dự giờ vv…để nắm tình hình có liên quan đến việc thực hiện chương trình dạy học. Ban lãnh đạo nhà trường phải biết dùng thời khoá biểu để điều khiển và kiểm soát tiến độ thực hiện chương trình dạy học của tất cả các môn, các lớp sao cho đồng đều, cân đối. Nếu chương trình dạy học là “bản thiết kế” của một công trình thì hoạt động dạy của thầy là sự “thi công” mà ban lãnh đạo là “tổng công trình” phải điều khiển “thi công” đúng “thiết kế”. Với những biện pháp đó, việc thực hiện chương trình của trường tôi đã được thực hiện đúng và nghiêm túc. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy của các thầy cô.
2. Soạn bài.
Là việc chuẩn bị quan trọng nhất của giáo viên cho giờ lên lớp. Đồng thời với việc soạn bài là sự chuẩn bị đồ dùng dạy học, đó là hai công việc chủ yếu trước giờ lên lớp của giáo viên. Để chất lượng bài soạn đạt hiệu quả cần tiến hành một số công việc cụ thể như sau:
- Hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch soạn bài căn cứ vào phân phối chương trình, bài soạn phải đảm bảo ngắn gọn, đủ nội dung, đủ thông tin.
- Thống nhất về nội dung và hình thức thể hiện các loại bài soạn. Với những giáo viên có tay nghề khá, giỏi thì yêu cầu bài soạn khác với những giáo viên có tay nghề đạt yêu cầu phải có nội dung phù hợp với nội dung bài dạy phù hợp với đối tượng học sinh. Ban lãnh đạo và các tổ trưởng tổ chuyên môn kiểm tra, theo dõi, nắm tình hình soạn bài của giáo viên như:
+ Lãnh đạo nhà trường trực tiếp dự các buổi sinh hoạt chuyên môn về trao đổi về cách soạn bài của các tổ khối chuyên môn, kết hợp kiểm tra kế hoạch dạy học của giáo viên các khối lớp theo định kỳ.
+ Mỗi học kỳ Hiệu trưởng tiến hành kiểm tra toàn bộ hồ sơ sổ sách 4 lần: giữa kỳ I, cuối kỳ I, giữa kỳ II, cuối kỳ II.
+ Sau mỗi lần kiểm tra có nhận xét, đánh giá những ưu, khuyết kịp thời có xếp loại cụ thể, chính xác, công bằng, tuyên dương hoặc phê bình công khai mang tính xây dựng. Các hồ sơ sổ sách của giáo viên được hội đồng sư phạm công nhận loại tốt, đạt chất lượng về nội dung, trình bày có khoa học và sáng tạo sẽ được trưng bày biểu dương trong toàn trường.
Qua các việc làm trên, tôi nhận thấy các đồng chí giáo viên đã thực hiện rất nghiêm túc việc soạn bài, chất lượng bài soạn được nâng cao và ảnh hưởng tốt đến hiệu quả của các tiết dạy. Qua các đợt thanh tra, kiểm tra của Phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT được đánh giá là trường có nhiều hồ sơ xếp loại tốt, bài soạn đã đi sâu vào đổi mới phương pháp và nội dung dạy học ở các môn học.
3. Giảng bài.
Hoạt động dạy và học ở trường tiểu học Thị Trấn chúng tôi hiện nay được thực hiện chủ yếu bằng hình thức dạy và học trên lớp. Giờ lên lớp giữ vai trò quyết định chất lượng dạy và học. Vì vậy, để hiểu rằng vì sao Ban lãnh đạo và giáo viên đều tập trung chú ý về mọi cố gắng của mình vào giờ lên lớp với một mục đích là nâng cao chất lượng toàn diện giờ lên lớp. Nhưng mỗi giáo viên đều có vai trò riêng giờ lên lớp, quyết định kết quả giờ lên lớp là người giáo viên, quản lý thế nào để các giờ lên lớp của giáo viên có kết quả tốt là việc làm của Ban lãnh đạo nhà trường.
* Yêu cầu của một giờ lên lớp:
- Giáo viên phải đảm bảo về yêu cầu kiến thức cơ bản, chính xác.
- Phương pháp phù hợp với bài dạy.
- Sử dụng đồ dùng dạy học như thế nào để có hiệu quả cao nhất.
- Phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo, hứng thú học tập của học sinh ở cả 4 đối tượng: Giỏi, Khá, TB, Yếu.
- Tuỳ theo bài học mà học sinh được: Tự rút ra bài học, được hướng dẫn kỹ năng, thực hành, được liên hệ thực tế cuộc sống, được mở rộng kiến thức phù hợp.
- Lời đánh giá, nhận xét học sinh phải thể hiện sự tôn trọng nhân cách, cho điểm chính xác, khuyến khích tư duy.
Để làm được việc này, ngay từ đầu năm học, trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, Ban lãnh đạo nhà trường chúng tôi phải đề ra kế hoạch thật cụ thể những yêu cầu chung về giảng dạy và những yêu cầu đặc trưng riêng của từng phân môn.
Ví dụ: Môn Khoa học cần chú trọng cho học sinh được thực hành bằng thí nghiệm, được quan sát vật chất để từ đó rút ra kết luận về các hiện tượng của tự nhiên. Môn Địa lý thì phải cho học sinh về kỹ năng sử dụng bản đồ hoặc lược đồ. Môn Tiếng Việt thì phải cho học sinh về kỹ năng luyện nói…
4. Thăm lớp, dự giờ.
Để nâng cao chất lượng giảng dạy, Ban lãnh đạo nhà trường phải thường xuyên thăm lớp dự giờ thường xuyên hoặc đột xuất cùng với tổ trưởng tổ chuyên môn. Sau mỗi tiết dự giờ phải có đánh giá, nhận xét chính xác, chân tình và có tính xây dựng, khuyến khích giáo viên phát triển được những mặt mạnh, những điển hình tốt, điều chỉnh được những mặt còn hạn chế của giáo viên.
Qua dự giờ, cần đánh giá giờ lên lớp một cách khách quan, trung thực, để từ đó có những biện pháp thích hợp, thực tế cho công tác quản lý giờ lên lớp của giáo viên trong nhà trường.
Chính vì việc dự giờ được tiến hành có kế hoạch thường xuyên nên Hiệu trưởng mới phát hiện ra những giáo viên có tay nghề khá, giỏi. Từ đó đề ra kế hoạch bồi dưỡng để nâng cao tay nghề cho đội ngũ giáo viên trong nhà trường.
5. Sinh hoạt tổ chuyên môn:
Là một công việc không thể thiếu được trong nhà trường. Trong đó đặc biệt quan trọng là các đồng chí tổ trưởng tổ chuyên môn phải có năng lực giỏi về chuyên môn thực sự, phải có uy tín lãnh chỉ đạo và điều hành các thành viên trong tổ. Hàng tháng phải xây dựng được kế hoạch hoạt động cụ thể, phù hợp với thực tế trong tổ, trong nhà trường để đi vào hoạt động có hiệu quả.
Để nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn đồng đều cho các tổ. Cụ thể: Trường lên kế hoạch tổ chức triển khai các chuyên đề cấp trường ở tất cả các phân môn, sắp xếp thời gian để giáo viên về dự, sau đó tổ chức thảo luận rút kinh nghiệm để đi đến thống nhất về hướng lựa chọn các phương pháp giảng dạy, lựa chọn hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp các phân môn…
Ngoài ra Hiệu trưởng còn chú ý các kế hoạch triển khai các chuyên đề của phòng GD&ĐT, của các trường bạn để thông báo cho giáo viên về dự. Qua đó học hỏi thêm kinh nghiệm của trường bạn, áp dụng những điều đã học vào giảng dạy.
Làm tốt công tác này là một biện pháp hữu hiệu để củng cố và nâng cao khả năng chuyên môn cho mỗi giáo viên trong nhà trường. Nhất là trong giai đoạn tiếp cận với yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục theo chủ đề của năm học 2009-2010.
6. Đồ dùng dạy học góp phần quan trọng tới chất lượng giảng dạy.
Quá trình nhận thức của học sinh tiểu học là trực quan cụ thể đến tư duy trừu tượng, yếu tố trực quan lại càng cần thiết. Chính vì vậy, Ban lãnh đạo nhà trường rất chú trọng đến việc sử dụng đồ dùng dạy học trong mỗi tiết dạy của giáo viên trong nhà trường. Ban lãnh đạo nhà trường yêu cầu các tổ trưởng tổ chuyên môn:
- Thống nhất việc chuẩn bị đồ dùng dạy học cho các tiết dạy của nhà trường hiện có, ngoài ra khuyến khích giáo viên làm thêm hoặc nhà trường mua thêm để phục vụ cho giáo viên giảng dạy.
- Trong các tiết dự giờ, Ban lãnh đạo nhà trường chú trọng tới việc sử dụng đồ dùng dạy học của giáo viên. Chính vì thấy rõ tầm quan trọng của đồ dùng trực quan tới chất lượng bài dạy.
- Hàng năm, phòng GD&ĐT đã phát động phong trào thi đua làm đồ dùng dạy học và tổ chức hội thi triển lãm đồ dùng dạy học cấp trường, cấp huyện. Đây là một dịp để giáo viên thể hiện rõ tài năng sáng tạo của mình trong việc tạo ra các sản phẩm đồ dùng dạy học có hiệu quả.
* Kết quả: Nhờ đồ dùng dạy học phong phú, giáo viên có điều kiện đổi mới phương pháp giảng dạy ở các phân môn. Học sinh hứng thú học tập, chủ động tìm hiểu nội dung bài dưới sự hướng dẫn của thầy.
7. Bồi dưỡng mũi nhọn giáo viên dạy giỏi, phụ trách giỏi.
Trong nhà trường muốn đẩy mạnh phong trào thi đua “Dạy tốt – Học tốt” thì điều quan trọng nhất thì phải xây dựng được phong trào mũi nhọn trong giáo viên. Muốn có giáo viên giỏi, Ban lãnh đạo nhà trường luôn khuyến khích động viên được giáo viên tham gia hội thi giáo viên giỏi cấp trường, cấp huyện, cấp tỉnh và có kế hoạch bồi dưỡng để giáo viên có hướng phấn đầu vươn lên.
Bên cạnh đó một công việc không kém phần quan trọng để nâng cao chất lượng giảng dạy là việc Ban lãnh đạo nhà trường luôn khuyến khích tạo điều kiện cho giáo viên học tập nâng cao trình độ về mọi mặt. Mỗi đồng chí giáo viên đều coi việc học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và tay nghề là quyền lợi và trách nhiệm của mình.
8. Đoàn kết giúp đỡ nhau là yếu tố không thể thiếu được trong nhà trường.
Lãnh đạo nhà trường rất coi trọng việc xây dựng một tập thể đoàn kết, nhất trí, thương yêu giúp đỡ nhau trong công tác và đời sống. Tập thể nhà trường luôn giữ bầu không khí vui vẻ, thông cảm với nhau. Công đoàn là một tổ ấm gia đình, trong đó mọi thành viên đều chân tình cởi mở. Giáo viên luôn tìm thấy nguồn động viên khuyến khích của tập thể, yên tâm phấn đấu trong giảng dạy để vươn lên.
Với sự chỉ đạo sát sao và đúng hướng của Ban lãnh đạo nhà trường như đã nêu ở trên thì phong trào thi đua “Dạy tốt, Học tốt” của nhà trường diễn ra sôi nổi, năng lực chuyên môn của giáo viên được nâng lên rõ rệt và nhiều giáo viên luôn có ý thức học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau. Điều đó đã có tác dụng rất lớn đến việc nâng cao chất lượng của học sinh trong hoạt động học.
B. QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG HỌC CỦA HỌC SINH:
Hoạt động dạy của thầy sẽ hoàn thành trọn vẹn khi hoạt động của học sinh được tổ chức hướng dẫn tốt từ trong lớp học, giờ lên lớp, đến ngoài nhà trường và ở nhà. Đó là sự liên tục của hoạt động dạy học, là trách nhiệm của người giáo viên đối với sản phẩm của mình.
Hoạt động học tập của người học sinh bao giờ cũng ăn nhịp với hoạt động dạy của giáo viên, do giáo viên điều khiển nên hoạt động dạy của giáo viên phải bao gồm: Tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập của học sinh như quan tâm đến hoạt động dạy của giáo viên. Thông qua giáo viên Hiệu trưởng quản lí hoạt động của học sinh làm sao để học sinh thấy được “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”.
Không gian hoạt động của học sinh là từ trong lớp, ngoài lớp, ngoài nhà trường cho đến ở nhà. Thời gian hoạt động học tập bao gồm giờ trên lớp, giờ học ở nhà và thời gian thực hiện các hình thức học tập khác.
Trong việc quản lí hoạt động học tập của học sinh. Ban lãnh đạo nhà trường cần bao quát được không gian và thời gian và các hình thức hoạt động học tập để điều hoà, cân đối chúng, điều khiển chúng hoạt động phù hợp với tính chất và quy luật của hoạt động dạy học. Vấn đề quản lý hoạt động học tập của học sinh đặt ra đối với người Hiệu trưởng không phải chỉ trên bình diện khoa học giáo dục mà còn là một đòi hỏi có ý nghĩa về tinh thần trách nhiệm của một nhà giáo dục với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Để hoạt động học tập của học sinh có tiến triển tốt, Ban lãnh đạo nhà trường chúng tôi thực hiện quản lí những vấn đề sau:
1. Giáo dục tinh thần, thái độ, động cơ học tập của học sinh.
Ban lãnh đạo nhà trường thường xuyên kiểm tra, theo dõi tình hình học tập của học sinh các lớp qua sổ chuyên cần để kịp thời phát hiện những trường hợp đặc biệt để phối hợp cùng với giáo viên chủ nhiệm có biện pháp nhắc nhở những em hay nghỉ học.
2. Mọi hoạt động lao động đều phải tính đến hiệu quả.
Ban lãnh đạo nhà trường cần tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả chất lượng học tập của học sinh qua các hình thức:
Các đợt kiểm tra định kỳ: Ra đề theo trọng tâm của chương trình, tổ chức chấm và đánh giá khách quan và công bằng.
Khảo sát chất lượng học tập của học sinh sau tiết dự giờ, thăm lớp để biết học sinh nắm bắt bài ở mức độ nào bằng cách hỏi miệng hoặc khảo sát trên giấy. Khi nhận xét, đánh giá phải luôn luôn nhìn nhận sự việc theo hướng phát triển tiến bộ, luôn động viên những biểu hiện tốt để khuyến khích sự vươn lên của học sinh.
Nắm số lượng học sinh giỏi,  yếu ở các khối lớp. Ban lãnh đạo, tổ trưởng tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu.
Ngoài việc học tập ra, Ban lãnh đạo tổ chức các hoạt động học tập lao động, vui chơi giải trí một cách hợp lý, phù hợp với tâm lí và sức khoẻ của học sinh như: tập thể dục giữa giờ, múa hát tập thể, thi văn nghệ, Hội khoẻ Phù Đổng…Đây là một yêu cầu quan trọng mà người quản lí trong nhà trường cần chú ý trong công tác quản lí các hoạt động học tập của học sinh.
* Kết quả:
Với những biện pháp nêu trên, nhà trường đã từng bước đưa chất lượng giảng dạy của giáo viên và phong trào học tập của học sinh đã đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra trong các năm học như sau:
* Năm học 2007-2008:
1. Về giáo viên:
+ Giáo viên dạy giỏi cấp trường: 9/10 giáo viên.
+ Giáo viên giỏi cấp huyện: 7/8 giáo viên.
2. Về học sinh:
- Hạnh kiểm: Học sinh thực hiện đầy đủ đạt 100%.
- Học lực:
+ Môn Toán: Giỏi 39 %; Khá 28,1 %; TB 21,9 %; Yếu 11 %.
+ Môn TV: Giỏi 32,4%; Khá 33,2%; TB 28,4%; Yếu 6%
+ Học sinh lên lớp thẳng: 93,1%.
+ Học sinh đạt danh hiệu học sinh giỏi: 27,08%.
+ Học sinh đạt danh hiệu học sinh tiên tiến: 22,23%.
- Học sinh lớp lớp 5 đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp tỉnh: 14/41 em.
+ Môn Toán:
+ Môn Tiếng Việt:
3. Phong trào thi viết chữ đẹp trong giáo viên và học sinh:
* Đối với giáo viên:
- Cấp trường: số học sinh dự thi 312 đạt 306 em.
 
* Năm học 2008 -2009:
1. Về giáo viên:
+ Giáo viên dạy giỏi cấp trường: 14 giáo viên
+ Giáo viên giỏi cấp huyện: 6 giáo viên
+ Giáo viên giỏi cấp tỉnh: 1 giáo viên
2. Về học sinh:
- Hạnh kiểm: Học sinh thực hiện đầy đủ đạt 100%.
- Học lực:
+ Môn Toán: Giỏi 42 %; Khá 31 %; TB 18 %; Yếu 9 %.
+ Môn Tiếng Việt: Giỏi 34,70%; Khá 36,7%; TB 23,5%; Yếu 5,2%
+ Học sinh lên lớp thẳng: 94,36 %.
+ Học sinh đạt danh hiệu học sinh giỏi: 29,4%.
+ Học sinh đạt danh hiệu học sinh tiên tiến: 23,6%.
- Học sinh lớp lớp 5 đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp tỉnh: 10 học sinh.
3. Phong trào thi viết chữ đẹp trong giáo viên và học sinh:
`        * Đối với học sinh:
- Cấp trường: Dự thi 517 đạt 464 em.
 
 
Phấn Thứ ba
KẾT LUẬN CHUNG
1. Kết luận.
Để có những kết quả trên, ngay từ đầu năm học. Ban lãnh đạo nhà trường chúng tôi phải tìm hiểu và nắm vững tình hình đạo đức, trình độ văn hoá, hoàn cảnh gia đình, môi trường giáo dục nơi trường đóng. Đó vừa là điều kiện, vừa là biện pháp không thể thiếu để dạy và học có hiệu quả, từ đó Ban lãnh đạo nhà trường đánh giá kết quả giáo dục, điều chỉnh các động tác sư phạm. Đây là việc làm cần thiết, thường xuyên của người lãnh đạo và cả đội ngũ giáo viên, nhân viên trong nhà trường.
Tiếp đó Ban lãnh đạo nhà trường cùng với các đoàn thể trong nhà trường phân tích, tổng hợp tình hình và nhận định, đánh giá một cách sâu sắc, khách quan tình hình học tập và rèn luyện tu dưỡng đạo đức của học sinh để rút ra những kết luận trong việc lựa chọn những phương pháp, hình thức tiến hành các hoạt động giáo dục có kết quả tốt hơn.
Sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên hợp lý là vấn đề rất quan trọng. Nó quyết định đến kết quả thực hiện thực hiện các hoạt động giáo dục của nhà trường.
2. Những bài học kinh nghiệm.
Ban lãnh đạo nhà trường cần tổ chức và chỉ đạo nâng cao hơn nữa chất lượng sinh hoạt các tổ chuyên môn trong nhà trường.
Người quản lý trong nhà trường phải chuyên tâm trong công tác quản lý và chỉ đạo các hoạt động toàn diện để đạt hiệu quả cao nhất. Muốn vậy, đòi hỏi người cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên không ngừng học tập để nâng cao về trình độ lý luận chính trị, về phẩm chất đạo đức lối sống và năng lực chuyên môn để đáp ứng được thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Biện pháp quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trường là một công việc rất quan trọng, phải được soi sáng bằng lý luận khoa học giáo dục, phải biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trong thực tế trường mình quản lý thì mới đạt được kết quả tốt, chất lượng dạy và học chính là thước đo có giá trị của một nhà trường tiểu học nói chung, trong đó có trường tiểu học Thị Trấn Đầm Dơi nói riêng.
 
 
                                           Thị Trấn, ngày 30 tháng 3 năm 2010
                                                      Người viết sáng kiến
                                                                                  
                                                               Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                                                                    
 
   
  
 
 VAI TRÒ CỦA ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
 I. SỰ CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH CỦA VIÊC THỰC HIỆN SÁNG KIẾN:
 

Năm học 2009 - 2010 được xác định là “ Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”
Vậy để nâng cao chất lượng giáo dục ở cấp tiểu học thì việc đổi mới phương pháp giảng dạy là một trong những vấn đề then chốt và được toàn thể các nhà quản lý giáo dục nói chung và các giáo viên trực tiếp giảng dạy nói riêng vô cùng quan tâm.
Vì có đổi mới phương pháp giảng dạy hợp lý thì kết quả giáo dục mới được nâng cao. Sau 5 năm triển khai kế hoạch đổi mới chương trình và sách giáo khoa ( từ lớp 1 đến lớp 5) thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học ( ban hành theo quyết định số 16/2006/ QĐ-BGD-ĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng BGD-ĐT) một số vấn đề đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học các môn học, cũng như công tác quản lý, chỉ đạo ở cấp tiểu học đang từng bước ổn định và đem lại hiệu quả thiết thực. Xu hướng chung của sự đổi mới giảng dạy ở tiểu học là làm sao cho người học tiếp cận với tri thức một cách có hiệu quả nhất. Vì thế việc cải tiến phương pháp giảng dạy bằng cách là người dạy sẽ tạo ra nhiều hình thức học tập khác nhau là vô cùng cần thiết, mục đích cuốn hút học sinh (HS) say mê, hào hứng, tập trung học tập và qua đó nhằm phát huy tính tự giác tích cực, chủ động và sáng tạo của  học sinh, giúp các em hiểu và nhớ lâu các kiến thức đã được học.
Để có được một hiệu quả tốt trong các giờ học thì việc sử dụng và khai thác đồ dùng dạy học ( ĐDDH ) có hiệu quả là một trong những nhân tố quan trọng góp phần không nhỏ giúp cho tiết học thành công, tiết học trở nên sinh động hơn, học sinh sẽ thích học hơn và điều quan trọng là các em sẽ tiếp thu kiến thức tốt hơn, vì đối với học sinh tiểu học là lứa tuổi hiếu động, thích quan sát, tò mò, khám phá những điều mới mẻ qua những hình ảnh, vật dụng, mô hình sinh động xung quanh. Những hình ảnh đó hay nói cụ thể hơn là những đồ dùng dạy học trực quan đó sẽ giúp học sinh tiếp thu một cách dễ dàng và nhanh nhất bài học. Việc tiếp thu kiến thức thông qua hình thức: “ Học mà chơi- chơi mà học” là rất phù hợp với lứa tuổi của các em vì nhận thức của học sinh tiểu học là: “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng - Từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn khách quan.”
          Chính vì thế, mà trong những năm gần đây BGD-ĐT, PGD-ĐT và các trường luôn chú tâm đầu tư khá nhiều về xây dựng mua sắp cơ sở vật chất cũng như các trang thiết bị dành cho giảng dạy. Các phong trào thi đua làm đồ dùng ở các cấp luôn diễn ra hằng năm. Việc sử dụng và tự làm đồ dùng dạy học ở các trường ngày càng một nâng lên kể cả số lượng và chất lượng. Vì vậy, tỉ lệ sử dụng ĐDDH một cách thiết thực và đạt hiệu quả là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu không nhằm ngoài mục tiêu là nâng cao kết quả và chất lượng giáo dục ngày càng một đi lên.
          Song trong thực tế, việc sử dụng ĐDDH ở một số trường nói chung và trường tiểu học Thị Trấn nói riêng còn nhiều hạn chế do từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Đặc biệt là bản thân người sử dụng chưa thấy được tầm quan trọng của việc sử dụng ĐDDH nên đôi lúc còn bỏ ngỏ hoặc chỉ sử dụng một cách đối phó, còn mang tính hình thức hoặc do chưa có kinh nghiệm biết cách sử dụng ĐDDH nên dẫn đến hiệu quả giảng dạy không cao. Vậy làm thế nào để khai thác và sử dụng ĐDDH một cách thiết thực và đạt hiệu quả cao nhất? Đó là một vấn đề nan giải, một câu hỏi được đặt ra cho tất cả chúng ta những người làm công tác giáo dục. Đây cũng là một trong những điều mà một người làm công tác quản lý về chuyên môn như tôi luôn trăn trở, suy nghĩ để tìm ra những biện pháp và cách thức sử dụng ĐDDH như thế nào cho đạt hiệu quả cao nhất trong các giờ dạy để cho người học là những học sinh thân yêu của trường chúng tôi tiếp cận kiến thức một cách có hiệu quả nhất để : “ Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” cho các em.

Xuất phát từ những yêu cầu và lý do nêu trên đã thôi thúc tôi chọn viết đề tài : “Vai trò của đồ dùng dạy học trong giảng dạy”
 
*Mục đích:
          - Trên  cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực trạng việc sử dụng ĐDDH ở trường tiểu học Thị Trấn từ đó đề ra những biện pháp hợp lý giúp giáo viên có được những giờ dạy nhẹ nhàng, sinh động và có hiệu quả nhằm nâng chất lượng dạy- học, góp phần giúp học sinh thể hiện được tính sáng tạo, tích cực chủ động trong học tập.
          - Thực hiện dự giờ các tiết dạy thực nghiệm có sử dụng ĐDDH ở trường đối chiếu so sánh với những tiết dạy không có sử dụng ĐDDH  xem kết quả như thế nào?
          - Từ đó đề ra những biện pháp nhằm thực hiện việc sử dụng ĐDDH trong các giờ học một cách thiết thực và có hiệu quả nhất.
          - Nêu những kiến nghị cụ thể để giúp cho việc quản lý và chỉ đạo về dạy- học có hiệu quả.
 
II. PHẠM VI TRIỂN KHAI THỰC HIỆN:
- Tại trường tiểu học Thị Trấn - Đầm Dơi – Cà Mau ( Từ khối 1 – khối 5)
- Chỉ nghiên cứu về việc chỉ đạo sử dụng đồ dùng dạy học trong các giờ lên lớp có kết quả như thế nào so với những giờ không sử dụng đồ dùng dạy học ở trường tiểu học Thị trấn – Huyện Đầm Dơi
 
III. NỘI DUNG SÁNG KIẾN :
          1 Thực trạng:
a) Vài nét sơ lượt về trường tiểu học Thị Trấn:
Trường tiểu học Thị Trấn nằm ở trung tâm Thị Trấn Đầm Dơi trong khu dân cư sinh sống, quán xá, buôn bán, chợ búa, bến tàu, các cơ quan làm việc và các trường học. Trường có hai điểm: Điểm trung tâm nằm ở Khóm I Thị Trấn Đầm Dơi và một điểm nằm ở khóm IV đang phải học nhờ vào cơ sở của Trường Dương Thị Cẩm Vân. Cơ sở của trường nhìn chung tương đối đáp ứng cho hoạt động dạy- học.
- Năm học 2009 - 2010 tổng số CB-GV-NV toàn  trường là 47/35 nữ. Trong đó: BGH có 4/2 nữ, 35/32 nữ GV trực tiếp giảng dạy( trong đó có 3 GV dạy chuyên môn âm nhạc và mĩ thuật ). Toàn trường có 32 lớp với 1410/685nữ.
- Năm học 2010-2011 tổng số CB-GV-NV toàn  trường là 50/37 nữ. Trong đó: BGH có 3/2 nữ, 44/34 nữ GV trực tiếp giảng dạy( trong đó có 4 GV dạy chuyên môn âm nhạc và mĩ thuật và BGH dạy môn đạo đức). Toàn trường có 37 lớp với 1520/758nữ.       
- Năm học 2011-2012, tổng số CB-GV-NV là 56/41 nữ. Trong đó: BGH: 3/2 nữ, 44/34 nữ giáo viên trực tiếp giảng dạy ( trong đó có 6 GV dạy chuyên môn âm nhạc và mĩ thuật, thể dục và BGH dạy môn đạo đức).  Trường có 38 lớp. Số học sinh 1521/765nữ.
- Trường có bề dày các thành tích về hoạt động dạy - học cũng như các phong trào thi đua và chất lượng mũi nhọn qua các năm như: giáo viên giỏi vòng Huyện đạt 25 GV, vòng Tỉnh 14 GV và 1 giáo viên đạt GV giỏi Quốc gia, có 17 GV đạt viết chữ đẹp vòng huyện, 9GV đạt viết chữ đẹp vòng Tỉnh. Qua các năm trường luôn có số lượng học sinh giỏi cấp Huyện chiếm 60-70 %, vòng Tỉnh chiếm từ 40 – 50 % là trường có tỉ lệ học sinh giỏi đứng đầu so với các trường trong toàn huyện. Đặc biệt trường có hai lần đạt giải I và III về trưng bày và thi làm ĐDDH cấp huyện và có 4 đồ dùng được dự thi và đạt giải cấp Tỉnh.
 
b) Những ưu điểm và hạn chế trong việc sử dụng ĐDDH
* Ưu điểm:
 - Đa số đội ngũ GV đều có tuổi nghề trên 13 năm công tác, nhìn chung có tay nghề tương đối đồng đều, yêu nghề, có trách nhiệm, nhiệt tình trong  giảng dạy
 - Đa số GV sử dụng và khai thác tương đối linh hoạt ĐDDH trong quá trình giảng dạy.
          - Ngoài các thiết bị được cấp, GV còn làm thêm các ĐDDH khác để phục vụ cho giảng dạy.
- Thực tế hiện nay việc sử dụng ĐDDH ở các khối lớp cũng tương đối khá.
-  Có 14/38 lớp có tủ đựng ĐDDH ngay tại lớp.
          - Giáo viên sử dụng từ 70 – 80 % ĐDDH được cấp. Sử dụng có hiệu quả nhất qua các buổi thao giảng, thăm lớp dự giờ, các hội thi giáo viên giỏi các cấp.
          - Nhìn chung ĐDDH được chuẩn bị khá tốt về cả nội dung và hình thức, có tính khoa học sáng tạo, màu sắc đẹp và phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học.
- Trường đã có 2 giáo viên giảng dạy bằng giáo án điện tử.
- ĐDDH chủ yếu có các loại như sau:
           * Về giáo viên:
            Năm 2009-2010 gồm có:
+ Tranh vẽ, ảnh chụp, tranh photo hoặc các mô hình, vật thật, các đồ dùng thí nghiệm được cung cấp hoặc tự làm.
+ Bảng phụ hai mặt, bảng xoay, bảng xếp, bảng cài. Trụ quay.
+ Phiếu học tập sử dụng cho cá nhân, nhóm,..
+ Các hộp đồ dùng học toán, tiếng Việt, kĩ thuật, màu vẽ,
+ Phương tiện nghe nhìn: Máy cát sét, đàn, phách, song loan,..
            Năm 2010-2011 và 2011-2012:
+ Ngoài ĐDDH đã có trong năm 2009-2010 thì trường đã có 2 máy chiếu, 2 màng hình, 2 đàn organg, 1 đàn piano
+ 100% GV soạn giáo án vi tính.
          * Về học sinh:
           SGK, dụng cụ học tập cá nhân, các hộp đồ dùng học toán, tiếng Việt và kĩ thuật, thẻ màu, thẻ A, B, C
 * Những tồn tại, hạn chế:
    - Về phía nhà trường:        
+ Cơ  sở vật chất:  đang còn mượn của trường cấp II ( 9 phòng học)
+ Phòng học chỉ đáp ứng cho các buổi học chính khóa ( học 1 buổi )
+ Chưa có các phòng học chức năng.
+ Chưa có đầy đủ các tủ đựng ĐDDH dành riêng cho mỗi lớp.
+ Trường chưa có máy chiếu, màng hình. Phương tiện nghe nhìn còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng ( đầu máy video và máy casset đã cũ hay bị hư)
 Hai điểm trường thì chỉ có một điểm trường tại khóm IV là có phòng thiết bị song diện tích lại quá chật, chỉ 42 mét vuông lại dùng chung cho cả văn phòng BGH, GV, chủ tịch công đoàn, nha học đường ngồi làm việc nên diện tích để trưng bày cho đẹp và có tính khoa học là không thể được, dẫn đến hạn chế về kiểm soát và tìm kiếm khi kiểm tra và sử dụng.
+ Cán bộ thiết bị chưa được đào tạo qua trường lớp nên còn hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ
              - Về phía giáo viên:
  Năm học 2009-2010:
+ Việc sử dụng ĐDDH đôi lúc còn bỏ ngỏ do ngại xuống điểm trường chính mượn hàng ngày.
+  Một số ít giáo viên ngại sử dụng vì ngại sự đầu tư về kế hoạch bài dạy, về sự chuẩn bị, phải làm thí nghiệm trước, lại cồng kềnh mang đi mang về.
+ Một số ít giáo viên sử dụng ĐDDH đôi lúc còn đơn điệu, mang tính hình thức, đối phó. Sử dụng còn lúng túng do ít sử dụng hoặc không nghiên cứu cách sử dụng, không làm thử nên dẫn đến hiệu quả không như ý muốn ( VD: Làm thí nghiệm một số tiết ở môn khoa học không được thành công). Một số GV khi sử dụng tranh ảnh, khai thác không triệt để hoặc sử dụng chưa hợp lý chưa đúng lúc, đúng thời điểm nên dẫn đến tiết học đạt hiệu quả không cao.
+ Một số ít GV khai thác lược đồ và bản đồ chưa thành thạo, lúng túng khi tìm và chỉ các địa danh hay tường thuật những nét sơ lược về diễn biến chính của chiến dịch ( VD Lược đồ: “ Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ”của môn lịch sử lớp 5)
+ Một số tiết lại sử dụng tương đối nhiều ĐDDH nên giáo viên cũng vất vả cho sự chuẩn bị và triển khai trên lớp ( dẫn đến trình bày, đính ở bảng quá nhiều, không hợp lý dễ làm học sinh phân tán sự tập trung.)
+ Về hình thức và nội dung của phiếu học tập dành cho hoạt động cá nhân , nhóm đôi lúc chưa rõ nét và phù hợp. Khi sử dụng nhiều lúc giáo viên quên cả kiểm tra kết quả học tập của học sinh qua phiếu như thế nào?
+ Giáo viên chưa nắm và nhớ hết các danh mục thiết bị dạy học của lớp mình đang dạy nên đôi lúc quên không đem ra sử dụng.
            Năm học 2010-2011 và HKI của năm học 2011-2012:
+ Hạn chế vừa nêu trên đã có phần giảm, GV đã sử dụng ĐDDH hiện có ở trường từ 85%- 90 %.
+ Giáo viên sử dụng ĐDDH tương đối đồng đều ở tất cả các môn học.
+ Nhìn chung GV đã biết khai thác tranh ảnh khá hợp lý, đúng lúc, đúng thời điểm nên dẫn đến tiết học đạt hiệu quả khá cao.
+ Về hình thức và nội dung của phiếu học tập dành cho hoạt động cá nhân , nhóm đôi khá rõ nét, phù hợp.
 * Về học sinh:    
  Năm học 2009-2010:
+ Sử dụng dụng cụ học tập chưa linh hoạt, hay làm rơi hoặc đổ đồ dùng học tập ra tung tóe trên mặt bàn ( Đối với học sinh lớp 1 và 2) ,dẫn đến mất mát, hư hỏng.
+ Khi HS đem đồ dùng ra để dùng thường hay ngồi xem và chơi với đồ dùng, quên học, nói chuyện hoặc dành lấy đồ dùng của nhau.
+ Đối với một số bài tập làm trên phiếu cá nhân thì học sinh hay ngồi xem hoặc làm hết cả nội dung trên phiếu, không chú ý đến hướng dẫn của giáo viên, không tập trung ngồi học ( xảy ra nhiều ở lớp một và hai).
 Năm học 2010-2011 và HKI của năm học 2011-2012:
+ Dưới sự hướng dẫn của GV, đa số các em đã có ý thức hơn trong việc sử dụng đồ dùng học tập
 
2. Cơ sở lý luận:
* Vai trò và giá trị của việc sử dụng đồ dùng dạy học trong giảng dạy:
 
Như chúng ta đã biết đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh tiểu học thì tư duy của học sinh là tư duy trực quan hành động, khả năng tư duy trừu tượng còn hạn chế, vốn ngôn ngữ của học sinh chưa phát triển. Đa số các em tư duy phải dựa trên các hình ảnh, dụng cụ trực quan cụ thể, từ đó mới phát triển được năng lực tư duy và trí tưởng tượng. Chính vì vậy, trong dạy học việc sử dụng các đồ dùng trực quan là rất cần thiết và không thể thiếu được đối với học sinh tiểu học ( Đặc biệt là HS lớp 1 và 2).
          Đồ dùng trực quan ở đây không chỉ là sách giáo khoa, vở ghi chép, đồ dùng giảng dạy và học tập hàng ngày của GV và HS mà còn là những tranh ảnh có ở trong sách giáo khoa hay các tranh vẽ, ảnh chụp được phóng to, vật thật, mô hình,… Mục đích để HS quan sát, tìm hiểu, nhận xét đưa ra kết luận và phát hiện ra nội dung, kiến thức cần lĩnh hội (ĐDDH có thể sử dụng cho cá nhân hoặc nhóm hay cả lớp vào các hoạt động học tập trên lớp).
          Đồ dùng dạy học nhằm hỗ trợ việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. ĐDDH có vai trò hết sức quan trọng ngoài tác dụng minh họa cho bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn, nó còn góp phần tạo biểu tượng cụ thể hóa các sự kiện, sự vật cho học sinh dễ tiếp thu kiến thức. ĐDDH nhằm tạo điều kiện để giáo viên tổ chức hướng dẫn và điều khiển các hoạt động nhận thức của học sinh. Nó giúp học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động, động lập sáng tạo khi tham gia vào các hoạt động học tập. Từ đó học sinh sẽ nắm chắc kiến thức hơn đồng thời hình thành, rèn luyện các kĩ năng và phát triển tư duy ngôn ngữ và trí tưởng tượng. Ngoài ra, Nó còn gây hứng thú học tập, từ đó giúp cho học sinh có động cơ học tập tốt hơn.
           ĐDDH còn giúp giáo viên tận dụng được thời gian giảng dạy, học sinh cả lớp quan sát nhìn thấy dễ dàng và đặc biệt là quá trình dạy - học sẽ đạt được hiệu quả cao.
Chính vì thế, có nhà giáo dục cho rằng: “ Trẻ không sợ học mà chỉ sợ những tiết học đơn điệu nhàm chán”. Các em sẽ cảm thấy mệt mỏi, nhàm chán và chẳng mấy hứng thú khi mãi nghe, nhìn thấy những lời nói của GV những dòng chữ bằng phấn trắng trên bảng hay những cái mô tả bằng lời của thầy, cô. Những lúc như vậy các em rất mong muốn nhìn thấy một cái gì mới để các em nhìn xem, tò mò quan sát vui vẻ, hứng thú, trao đổi với nhau trong học tập. Thường thì cái mới đó chính là đồ dùng dạy học.
Giáo viên sử dụng ĐDDH có hiệu quả thì sự tiếp thu của học sinh sẽ đạt kết quả cao hơn. Chính vì vậy mà Luật Giáo dục đã quy định rất rõ về tiêu chuẩn trường, lớp
, các thiết bị dạy học ở trường tiểu học cụ thể như sau:
         “ …Thiết bị giáo dục trang bị cho nhà trường phải thiết thực. Trước mắt cần trang bị những thiết bị tối thiểu, cần thiết phục vụ yêu cầu đồng bộ giữa thiết bị chứng minh của giáo viên và thiết bị thực hành của HS, cần kết hợp trang thiết bị truyền thống đơn giản và thiết bị hiện đại( phương tiện nghe, nhìn, phòng nghe, nhìn,…) từng bước hiện đại hóa nhà trường tiểu học theo sự phát triển của xã hội và kinh tế đất nước. Khuyến khích giáo viên và học sinh làm ĐDDH bằng nguyên vật liệu địa phương, giá thành thấp…”.
          Vậy để nâng cao được chất lượng giáo dục thì ĐDDH đóng một vai trò khá quan trọng hoạt động dạy - học. Đồ dùng dạy - học được ví gần như là một người bạn đồng hành không thể tách rời với hoạt động dạy-học. Nó góp phần không nhỏ cho sự thành công vào giờ giảng trên lớp của GV, là chìa khóa mở ra tri thức cho HS và giúp các em phát triển năng lực, trí tuệ của mình. Song Nó chỉ thành công khi cả giáo viên và học sinh biết cách sử dụng và khai thác Nó, mà trong đó người đóng vai trò đầu tiên quyết định cho sự thành công này không ai khác chính là giáo viên.
 
3. Những biện pháp giải quyết vấn đề:
Là một phó hiệu trưởng phụ trách về chuyên môn và các phong trào mũi nhọn, trong giai đoạn hiện nay, tôi nhận thấy rõ vai trò và tầm quan trọng của việc sử dụng đồ dùng trong dạy học. Vì thế tôi đã đi sâu tìm hiểu các vấn đề có liên quan đến đề tài với mục đích là cho GV thấy được tầm quan trọng của việc sử dụng ĐDDH có hiệu quả trong giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, để chất lượng giáo dục của trường ngày càng một đi lên bắt kịp với sự tiến bộ của đất nước. Để thực hiện được điều này, việc đầu tiên tôi làm là:
          3.1/ Đối với bản thân và đồng nghiệp:
- Phải phấn đấu làm người tiên phong trong việc đổi mới phương pháp dạy học
- Tổ chức hội thảo cấp trường các chuyên đề : “Về Quản lý và sử dụng thiết bị dạy học có hiệu quả”.
- Tạo mọi điều kiện, phương tiện có thể có nhằm phục vụ tốt cho GV trong quá trình thực hiện đổi mới.
- Tham mưu với hiệu trưởng về mua sắm các thiết bị phục vụ cho giảng dạy
          3.2/ Tổ chức chỉ đạo về công tác chuyên môn:
          - Chỉ đạo cho các tổ trưởng chuyên môn ở 5 khối kiểm tra lại các danh mục thiết bị dạy học (ĐDDH) tối thiểu và đối chiếu với những ĐDDH hiện có ở trường, phân loại các ĐDDH còn sử dụng được và những ĐDDH đã hư hỏng từ đó làm tờ trình xin ý kiến của hiệu trưởng mua sắm lại những ĐDDH cần phải sử dụng tối thiểu theo danh mục.
- Chỉ đạo cho các tổ chuyên môn cho GV đem danh mục ĐDDH hiện có ở trường đối chiếu với báo giảng của từng GV để kiểm tra và đánh dấu vào các bài có sử dụng ĐDDH nhằm các mục đích sau:
+ Giúp GV có kế hoạch đầu tư cho tiết dạy một cách chu đáo và tốt nhất.
+ Tránh cho GV quên không sử dụng ĐDDH được cấp hiện có ở trường
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chuyên môn kiểm tra hàng ngày, hàng tuần và sẽ phát hiện ra ngay GV nào quên không sử dụng ĐDDH.
- Chỉ đạo tổ chức các chuyên đề về: “ Hướng dẫn sử dụng thiết bị dạy học tối thiểu” trong đó có thể hiện dạy minh họa nhằm nâng cao hiệu quả về cách sử dụng ĐDDH ở từng môn học đối với các khối lớp.
- Cử cán bộ thiết bị đi học để nâng cao chuyên môn ( nếu có).
- Khuyến khích GV – HS làm ĐDDH .
- Tổ chức thi và sử dụng ĐDDH hàng năm.
- Xin ý kiến của cấp trên đầu tư về các trang thiết bị nghe, nhìn,..để áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.
- Hàng tháng khi sinh hoạt chuyên môn ngoài đánh giá các hoạt động dạy- học và nêu kế hoạch tháng tới,…lồng ghép thêm sinh hoạt chuyên đề theo từng tổ về tìm hiểu cách sử dụng ĐDDH cụ thể từng môn học. Trong mỗi tiết thao giảng nên trao đổi cụ thể những ưu điểm và hạn chế khi sử dụng ĐDDH và đưa ra hướng giải quyết hiệu quả hơn. Các GV trong tổ cùng nhau trao đổi cách sử dụng ĐDDH phục vụ cho các bài trong tháng .
- Mỗi GV cần tự mình nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm với GV dạy giỏi về cách sử dụng ĐDDH
- Trong mỗi kế hoạch bài dạy cần phải cố gắng đầu tư suy nghĩ đến nội dung bài dạy, phải chú ý đến mục tiêu từng bài cần phải cung cấp gì cho học sinh, những kiến thức trọng tâm cơ bản và phương pháp cũng như các hình thức học tập của HS, những nội dung nào cần phải sử dụng ĐDDH và sử dụng khi nào thì hợp lý và có hiệu quả nhất.
3.3/  Một số lưu ý khi sử dụng các đồ dùng dạy học     
Đây là công việc có ý nghĩa và tác dụng rất lớn trong việc dạy học vì nó giúp cho quá trình nhận thức (tư duy trực quan hành động) của trẻ thêm hiệu quả. Làm cho tiết học trở nên nhẹ nhàng, sinh động hơn. Song để đạt được những điều đó thì khi sử dụng ĐDDH giáo viên cần phải nghiên cứu, cách hướng dẫn sử dụng ĐDDH và cần lưu ý thêm một số điểm sau:
- GV cần phải nắm và biết được danh mục ĐDDH của khối, lớp mình đang dạy ( Môn nào có, môn nào chưa có, những tên loại ĐDDH nào sử dụng cho bài học nào,…) để từ đó có kế hoạch cho bài dạy.
- Cần phải xem cách hướng dẫn sử dụng ĐDDH và thực hành trước khi lên lớp để tránh sai sót hoặc không thành công.
* Ví dụ: Môn khoa học lớp 4,khi dạy bài : “ Không khí cần cho sự cháy” GV làm thí nghiệm để chứng minh:
+ Càng có nhiều không khí thì càng có nhiều ôxy và sự cháy sẽ được tiếp diễn.
+ Muốn sự cháy diễn ra liên tục, không khí phải được lưu thông.
* ĐDDH để sử dụng cho bài này gồm có: 2 cây nến bằng nhau. Hai lọ thủy tinh, 1 lọ to, 1 lọ nhỏ. Hai lọ thủy tinh không có đáy.
* Lưu ý: Ở thí nghiệm này nếu GV không làm thử trước để rút kinh nghiệm thì rất dễ bị thất bại vì do khi đậy 2 lọ thủy tinh ( 1 lọ to, 1 lọ nhỏ ) vào ngọn nến đang cháy quá nhanh, lực áp của không khí dồn đột ngột hoặc gió tạt mạnh vào 2 ngọn nến đang cháy dễ làm cho 2 ngọn nến sẽ bị tắt cùng lúc.
- ĐDDH cần phải gọn, nhẹ, dễ làm, dễ sử dụng và sử dụng lâu dài, ĐDDH không quá cầu kì, lòe lẹt. Điều quan trọng là ĐDDH nên làm phù hợp với sở thích của HS tiểu học nên màu sắc phải đẹp, hài hòa, hợp với nội dung bài học, ĐDDH cần phải phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS
* Ví dụ:  Tranh vẽ hoặc tranh phóng to cho cả lớp quan sát cần vẽ ( pho to) trên khổ giấy A4 với nội dung tranh vẽ chỉ vài hình ảnh chính như bài “ Mưu chú Sẻ” tập đọc lớp 1,phần “ Nói câu chứa tiếng có vần uôn – uông” chỉ có 2 hình ảnh chính đó là mẹ đang ngồi đan len và em bé đưa cuộn len cho mẹ, trong đó cần chú ý đến chi tiết cuộn len trên tay bé phải rõ để từ nội dung tranh rút ra mẫu câu: “ Bé đưa cuộn len cho mẹ”. Còn nội dung tranh vẽ có nhiều chi tiết như môn đạo đức lớp 1, Bài“ Đi bộ đúng quy định” bài tâp 4 thì cần thể hiện vẽ hoặc photo trên giấy A 3 để thấy rõ các chi tiết xe cộ, người đi bộ,và các tín hiệu đèn, vạch đi đường và cần tô màu phù hợp theo quy định về tín hiệu đèn màu, vạch sơn trắng dành cho người đi bộ.
- Việc sử dụng ĐDDH như thế nào cho có hiệu quả đó là một vấn đề quan trọng và quyết định đến hiệu quả của giờ dạy. Nếu một ĐDDH  đẹp, mang tính khoa học, sáng tạo song GV sử dụng không đúng lúc, hoặc khai thác không triệt để hoặc hướng khai thác không lô gich và phù hợp thì xem như không có hiệu quả.
* Ví dụ :
+ Có tranh GV cần đưa ra cho HS quan sát ngay từ đầu kết hợp đàm thoại đặt vấn đề để giới thiệu bài mới tạo tính hấp dẫn thu hút học sinh vào bài học như tranh ở SGK bài: “ Mưu chú Sẻ” tiếng Việt 1. Nội dung tranh vẽ 2 nhân vật đó là chú Mèo và chim Sẻ, ngoài ra có chi tiết phụ là đống rơm, cây chuối và đám mây. Khi khai thác tranh GV chỉ cần làm nổi bật được chi tiết vẻ mặt đầy tức giận của chú Mèo và hình ảnh chú Sẻ đang bay đi.Từ đó GV kết hợp với lời giới thiệu vào bài mới qua nội dung tranh vẽ.
+ Có những nội dung bức tranh dùng để minh họa về tiết kể chuyện trong SGK được phóng to đó là đồ dùng trực quan để GV hướng dẫn HS kể chuyện trên lớp. Vì vậy GV cần bám sát từng chi tiết, từng hình ảnh minh họa trong tranh để hướng dẫn HS học tập trên lớp có hiệu quả tốt nhất
- Song cũng cần chú ý trong một tiết dạy không nên sử dụng quá nhiều tranh, ảnh, các đồ dụng dạy học khác sẽ làm cho chúng ta vất vả cả khâu chuẩn bị và triển khai dẫn đến mất thời gian và tốn kém không cần thiết.
* Ví dụ:
+ Có những nội dung tranh đã có ở SGK nhằm để minh họa cho chủ điểm được in to, rõ thì không cần vẽ hoặc photo ra mà nên cho HS quan sát ở SGK là được.( VD : Tranh chủ điểm: Thể thao ở trang 73, Tuần 28 ở SGK  tiếng việt lớp 3 )
+ Đối với những nội dung bài tập quá ngắn chỉ một vài dòng hoặc một vài từ GV nên sử dụng phấn để ghi bảng không cần chuẩn bị ghi trước ở bảng phụ vừa tốn kém, mệt lại mất thời gian gắn lên, bỏ xuống( VD: ghi tựa bài, các kết luận hay nội dung bài học, công thức ngắn gọn ) những nội dung ngắn gọn như trên thì GV nên vừa giảng lại nội dung chính và kết hợp ghi lên bảng sẽ hay và làm cho HS chú ý  hơn.
- Tránh viết sẵn các nội dung bài học hay bài tập lên bảng rồi dán giấy, che giấy màu trắng quá nhiều trên bảng lớp sẽ không thẩm mỹ và gây cho HS cảm thấy hoa mắt và mệt mỏi.
- Trong một hoạt động: Khi cho HS sử dụng phiếu học tập chỉ nên đưa ra 1 nội dung bài tập cụ thể bằng những câu hỏi trắc nghiệm hoặc là tự luận và phải có yêu cầu cách làm rõ ràng
* Ví dụ: Môn khoa học lớp 5, Bài 48: “ An toàn và tránh lãng phí khi sử dụng điện”. Hoạt động này GV cho HS thảo luận nhóm có sử dụng phiếu học tập theo nhóm. Giáo viên phát cho mỗi nhóm một bộ tranh: “ Những việc nên làm và không nên làm để đảm bảo an toàn về điện”. với nội dung ở phiếu như sau:
 
* Minh họa nội dung phiếu học tập : Môn khoa học lớp 5
Bài : “ An toàn và tránh lãng phí khi sử dụng điện”
PHIẾU HỌC TẬP NHÓM:……………..
Em hãy dựa vào bộ tranh: “ Những việc nên làm và không nên làm để đảm bảo an toàn về điện” Em hãy lựa chọn và thảo luận theo gợi ý sau:
+ Chọn ra bức tranh vẽ việc nên làm để bảo đảm an toàn về điện, giải thích vì sao em cho rằng đó là việc nên làm?
+ Chọn ra bức tranh vẽ việc không nên làm để tránh bị điện giật, giải thích vì sao em cho rằng đó là việc không nên làm?
Tranh Nên / Không nên Gỉai thích
1    
2    
3    
   
- Không nên đưa vào phiếu học tập tất cả các bài tập của một tiết học.
* Ví dụ: Môn toán lớp 1 bài “ Luyện tập” có tất cả 4 bài tập, GV in trên giấy A 4 phát cho HS làm việc cá nhân cả 4 bài tập một lúc. Qua quan sát trên thực tế một tiết dạy thi GV giỏi tôi thấy HS cứ cầm phiếu học tập mà giáo viên phát để xem, đưa lên ,đưa xuống, thích làm bài nào trước thì làm, không chú ý đến thầy cô nói gì  dẫu rằng có nhiều khi GV đã nhắc nhở : “ Các em bỏ giấy xuống và nhìn bảng”và điều quan trọng là trong cùng một lúc như vậy GV đưa cho HS quá nhiều việc phải làm thì các em sẽ không biết làm như thế nào, chưa nói gì đến số HS học yếu, đọc chưa rành cuối cùng vẫn để nguyên phiếu học tập trắng toát và GV cũng không kiểm tra kết quả của HS cả lớp như thế nào.
- Khổ giấy dùng cho HS hoạt động trong nhóm ( phiếu học tập nhóm) lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào dung lượng bài tập nếu phiếu thảo luận nhóm gắn lên bảng lớp để trình bày nên sử dụng khổ giấy lớn  50 x 60 ( lớn hay nhỏ hơn tùy thuộc số lượng chữ và nên cho HS viết bằng bút lông màu xanh hoặc đen để cho cả lớp dễ thấy ) hoặc sử dụng bảng phụ ghi bằng phấn hoặc bút lông ( bảng nên có dòng kẻ để HS viết cho thẳng hàng.) Nếu nội dung thảo luận quá ngắn gọn, dễ nhớ, không nhất thiết phải cho HS viết trên giấy, vừa tốn kém lại mất thời gian, những nội dung như vậy chỉ cần cho HS trình bày miệng là được ( với cách thực hiện như vậy sẽ có nhiều nhóm trình bày và không mất nhiều thời gian) .
       - Mỗi GV cần tự mình nghiên cứu cách sử dụng ĐDDH và điều quan trọng là phải cố gắng đầu tư suy nghĩ đến nội dung bài dạy, phải chú ý đến mục tiêu từng bài cần phải cung cấp gì cho học sinh, những kiến thức trọng tâm cơ bản và phương pháp cũng như các hình thức học tập của HS, những nội dung nào cần phải sử dụng ĐDDH và sử dụng khi nào thì hợp lý và có hiệu quả nhất.
3.4.  Minh họa một số tiết có sử dụng ĐDDH có hiệu quả ở trường tiểu học Thị Trấn.( Trong phần minh họa này chỉ đưa ra các hoạt động trong tiết học có liên quan đến sử dụng ĐDDH , không đưa ra hết nội dung bài giảng)
         Sau đây là phần minh họa trích dẫn một số hoạt động dạy học có sử dụng ĐDDH  đạt hiệu quả trong một số tiết dạy thực nghiệm:
 
MÔN TOÁN - LỚP 1
Bài : LUYỆN TẬP - Tiết PPCT: 110
A/ Mục tiêu: Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng
- Biết giải bài toán có lời văn
- Thực hiện phép cộng, phép trừ ( không nhớ) các số trong phạm vi 20
B/ Đồ dùng dạy học:
- Mô hình (12 chiếc máy bay cắt bằng giấy bìa và di chuyển được nhờ vào dây kéo ) gắn trên hình nền sân bay.
- Hai bảng phụ ghi nội dung bài tập 3
- Hình vẽ  8 hình tam giác ở SGK.
C/ Mục đích cần đạt khi sử dụng ĐDDH trong các hoạt động cụ thể :
*Về mô hình máy bay: Cho HS tự mình kiểm tra lại đáp số ( kết quả) vừa tìm được để tự củng cố lại kiến thức : Khi bớt đi một số ( hoặc tìm số còn lại) Thường thì thực hiện phép tính trừ.
*Hai bảng phụ ghi nội dung BT 3 là một trò chơi giúp HS thay đổi hình thức học tập bằng cách thi đua qua trò chơi nhằm ôn lại cách thực hiện tính dãy phép tính.   
D/ Phần thực hành một số bài tập có sử dụng ĐDDH.
     * Bài tập 2: Để giúp HS củng cố ôn lại và nhớ được: “ Thường nếu bài toán yêu cầu tìm số còn lại ta thực hiện phép tính trừ.”
     *Cách thực hiện:
Bước 1: GV cho HS tìm hiểu đề bài toán ( Phương pháp đàm thoại để xác định yêu cầu của bài toán và kết hợp ghi tóm tắt chưa hoàn chỉnh lên bảng).
Bước 2: GV cho HS thực hành làm ở phiếu học tập ( làm cá nhân) Một HS làm trên bảng lớp.
·       Nội dung phiếu học tập như sau:
- Bài tập 2: Trên sân bay có 12 máy bay, sau đó có 2 máy bay bay đi. Hỏi trên sân bay còn lại bao nhiêu máy bay?
                   Tóm tắt:                                                     Giải
Có :……….máy bay.              ……………………………………………
Bay đi: ….. máy bay.              ……………………………………………
Còn lại……máy bay?             ……………………………………………
- HS hoàn thành tóm tắt và trình bày bài giải.
Bước 3: Kiểm tra bài làm của HS ( GV đã sử dụng mô hình)
          - GV cho 1 HS nhận xét bài giải trên bảng lớp
          - GV hỏi : Vì sao em thực hiện phép tính 12 – 2  
          - HS nêu: Vì muốn biết số máy bay còn lại ta lấy số máy bay có trên sân bay là 12 trừ số máy bay bay đi là 2.
          - GV: Để biết xem kết quả bạn làm đúng hay sai cô cùng các em kiểm tra lại qua mô hình. GV gắn mô hình lên bảng để kiểm tra như sau:
        + Cho HS nhìn mô hình đếm số máy bay có trên sân bay ( Từ 1,2,…12 chiếc)
        + GV dùng dây kéo 2 chiếc máy bay chuyển động bay ra khỏi sân bay (mô hình.)
        + GV cùng HS đếm lại xem trên sân bay còn lại mấy máy bay. ( 10 máy bay)
        + GV – HS nhận xét bài làm của bạn trên bảng là đúng.
*Bài tập 3: Điền số thích hợp vào Ô trống ( Nội dung bài tập này ghi vào 2 bảng phụ)
  Mục đích : Cho HS chơi trò chơi để củng cố cách thực hiện tính dãy phép tính.
Bước 1: HS xác định yêu cầu của bài tập 3.( Điền số thích hợp vào ô trống)
- GV chỉ vào bảng phụ và nêu: Những bông hoa tượng trưng cho Ô trống. Sau đó GV yêu cầu HS đọc dãy phép tính thứ nhất 17 -  2 -> bông hoa – 3 - > bông hoa.
- GV cho HS nêu lại cách thực hiện Tính dãy phép tính? ( Lấy 17 – 2 bằng bao nhiêu ghi kết quả vào bông hoa, sau đó lấy kết quả ở bông hoa vừa tìm được trừ 3 bằng bao nhiêu ghi vào bông hoa kế tiếp.
Bước 2: Giáo viên tổ chức cho lớp chơi trò chơi: “ Ai nhanh, Ai đúng”
- GV chia lớp thành 2 đội chơi. Mỗi đội có 3 em.
Cách chơi: . Mỗi đội xếp thành một hàng dọc, tiếp nối nhau mỗi em thực hiện 1 dãy phép tính. Nếu đội nào tính nhanh và có nhiều kết quả đúng thì đội đó thắng cuộc. GV cùng cả lớp làm trọng tài và cổ vũ cho 2 đội chơi.
Bước3: HS tham gia chơi.
Bước 4:Tổ trọng tài kiểm tra để xác định đội chiến thắng.
- GV cho HS đọc lần lượt các dãy phép tính để nhận xét đúng hay sai( VD: HS đọc 17 – 2 = 15, GV mở bông hoa có ghi kết quả lên để HS kiểm tra kết quả ghi phía dưới bông hoa là 15 thì nhận xét: “ Đúng” GV thực hiện tương tự như vậy cho đến hết
+ Đếm số kết quả đúng của mỗi đội và nhận định đội chiến thắng.
* Phần nhận xét qua tiết dạy:
Ưu điểm:
Nội dung của tiết luyện tập này có 4 bài tập trong đó có 3 bài thuộc dạng toán có lời văn và 1 bài là các dãy phép tính nên rất khô khan. Vì vậy việc tìm phương pháp và hình thức học tập cho tiết học trở nên sinh động là tương đối khó. Hơn nữa hình ảnh minh họa trong SGK ở tiết này chỉ có vẽ 2 chiếc máy bay ở bài tập 2 và 1 hình vẽ 8 hình tam giác của bài tập 4. Nếu GV không đầu tư chắc có lẽ tiết học sẽ đơn điệu và nhàm chán. Nhưng ở đây GV đã có tính sáng tạo và đầu tư suy nghĩ ra cách sử dụng ĐDDH trong tiết này bằng mô hình máy bay đưa vào thời điểm cho HS kiểm tra lại kết quả ở bài tập 2 ( Đối với HS lớp 1 ) là rất hợp lý nhằm củng cố kiến thức và tạo niềm tin cho các em .Mặt khác GV cũng đã biết thay đổi hình thức học tập cho HS bằng phương pháp trò chơi ở BT 3 ngay thời điểm HS tương đối mệt mỏi. Thì trò chơi đưa ra lúc này đã lôi kéo sự tập trung học tập trở lại của học sinh và các em rất hứng thú học tập. Qua tiết học tôi nhận thấy:
+ Học sinh  tập trung học tốt, tiết học rất sôi nổi và hào hứng.
+ GV hướng dẫn tổ chức tiết dạy rất nhẹ nhàng,
+ Thời gian thực hành các bài tập được đảm bảo nhưng hiệu quả vẫn cao.
+ Đa số HS được tham gia vào các hoạt động học trên lớp và nắm kiến thức tốt.
          + ĐDDH tự làm có tính khoa học và đẹp màu sắc hài hòa ( Mô hình sân bay đó có thể sử dụng cho các bài toán khác bằng cách đổi hình nền và tháo số máy bay ra)
          + Kết quả khảo sát: 41 hs. Có kết quả như sau:
        Bài điểm 9 và 10: 21 bài.                            Bài điểm 5 và 6  :   4 bài
        Bài điểm 7 và 8  : 15 bài                             Bài điểm 4          :   1 bài
Hạn chế:
- Bài tập 2: học sinh thực hiện trên phiếu học tập, có một số HS chưa hoàn thành hết theo yêu cầu, một số em quên không hoàn thành phần tóm tắt, một số em chưa ghi lời giải nguyên nhân vì đọc và viết còn yếu.
- Khi tham gia trò chơi HS hơi mất trật tự do xin chơi và cổ vũ quá to.
 
                             
MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI LỚP 3
BÀI 52: CÁ
A. Mục tiêu:
- Chỉ và nói đúng tên các bộ phận cơ thể bên ngoài của cá trên hình vẽ hoặc mô hình vật thật.
- Nêu được ích lợi của cá đối với đời sống con người.
- Biết được cá là động vật có xương sống, sống dưới nước, thở bằng mang. Cơ thể chúng thường có vảy, có vây.
B. Đồ dùng dạy học:
-  Con cá thật. Các hình minh họa trong SGK trang 100, 101 ( phóng to )
-  Sưu tầm các tranh ảnh về việc nuôi và đánh bắt, chế biến cá.
-  Các mảnh hình ghép thành con cá ( trò chơi)
C. Phần thực hành một số hoạt động có sử dụng ĐDDH
          Hoạt động 1: Quan sát và thảo luận nhóm đôi.
Bước 1 : Làm việc cả lớp quan sát vật thật.
-         GV cho HS quan sát 1 con cá thật đang bơi lội trong chậu nước.
-          Mục đích sử dụng:
 + Chỉ và nói đúng tên các bộ phận cơ thể của con cá.
           + Cá sống ở đâu? Chúng thở bằng gì? Di chuyển bằng gì?
- GV mời HS lên trình bày . ( HS chỉ vào cá thật trình bày) .
          - Trên cơ sở được quan sát HS nêu được: Cá có đầu, mình, đuôi và các vây. Bên ngoài cơ thể của cá có vảy bảo vệ. Cá sống dưới nước cá thở bằng mang và di chuyển bằng vây.
Bước 2: HS thảo luận nhóm đôi làm việc với SGK.
- Các nhóm quan sát hình trong SGK nêu một số điểm giống và khác nhau của các loài cá có trong hình? ( thời gian 2 phút)
- GV mời đại diện vài nhóm trình bày (chỉ hình vẽ như SGK được phóng to).
Trên cơ sở được quan sát và cùng nhau thảo luận mục đích các nhóm chỉ và nêu được:
      + Tên 8 loài cá: cá vàng, cá chép, rô phi, cá quả, cá chim, cá ngừ, cá đuối, cá mập.
      + Giống nhau: Cá gồm có đầu, mình, đuôi và vây.
      + Khác nhau: Về màu sắc và hình dạng.
Bước 3: Qua quan sát thực tế và kết hợp thêm sự hiểu biết HS rút ra được kết luận: Cá là động vật có xương sống, sống dưới nước, thở bằng mang. Di chuyển bằng vây và đuôi. Cơ thể cá thường có vảy bao phủ.
Hoạt động 2: Hoạt động cả lớp.
Bước 1: GV tiếp tục sử dụng hình vẽ 8 con cá được phóng to ở hoạt động 1 cho HS tiếp tục quan sát mục đích:
          - Chỉ và nêu tên cá loài cá sống ở nước ngọt, nước mặn.( Cá nước ngọt: Cá vàng, cá chép, cá rô phi, cá quả. Cá nước mặn: Cá chim, cá đuối, cá mập, cá ngừ)
          - GV cho HS liên hệ nêu thêm cá loài cá nước ngọt, nước mặn mà HS biết?
          - GV mở rộng cho HS quan sát thêm ảnh chụp một số loài cá nước ngọt như: cá mè, cá lóc, cá trê,..và cá nước mặn như: cá heo, cá thu, cá bạc má, ( Ngoài ra GV Còn cho HS Biết thêm có một số vùng nước ngọt bị nhiễm mặn gọi là nước lợ thì một vài loài cá vẫn thích nghi để sống dược VD như: cá bống tượng, cá rô phi, cá chẻm,..)
Bước 4: Nêu lợi ích của cá ( sử dụng phương pháp đàm thoại )
Bước 5: GV giới thiệu thêm cho HS quan sát một số hình ảnh về hoạt động nuôi,chế biến và đánh bắt cá mục đích: Thấy được nhiều mô hình nuôi cá, chế biến, đánh bắt cá và kết hợp giáo dục HS có ý thức bảo vệ cá.
Hoạt động 3: trò chơi “ Ghép hình” Có hai đội cùng tham gia thi ghép hình nhanh, đúng và đẹp nhất.( 2 con cá có hình dạng giống nhau, Một đội 2 em)
GV sử dụng các mảnh hình con cá được cắt rời để HS ghép. Mục đích : củng cố kiến thức đã học về các bộ phận bên ngoài của con cá.
* Phần nhận xét :
Ưu điểm:
          - GV có đầu tư và chuẩn bị rất chu đáo về kế hoạch bài dạy cũng như ĐDDH, ngoài hình ảnh có trong SGK GV đã sưu tầm tương đối phong phú về tranh, ảnh, vật thật và mô hình để phục vụ cho tiết dạy.
          -  ĐDDH đẹp, khoa học, màu sắc hợp lý
          - Các hoạt động diễn ra hợp lý. Nhẹ nhàng.
          - Cả lớp đều được tham gia vào các hoạt động học tập, các em sôi nổi và hứng thú trong học tập. HS nắm được bài.
          - Trong hoạt động nhóm, các em tập trung và thảo luận sôi nổi, do được quan sát trên vật thật và mô hình nên các em đều trả lời được đa số các câu hỏi GV nêu.
Kết quả khảo sát: 42 HS có  38 bài đạt khá giỏi, 4 bài đạt trung bình.
Hạn chế:
Con cá thật cho cả lớp quan sát có kích thước hơi nhỏ lại để trên bàn GV có khoảng cách xa nên để phát hiện được cá thở bằng mang thì khó thấy.
 
                                                            @@@@@
 
MÔN MỸ THUẬT LỚP 4
Bài : VẼ TRANG TRÍ – TRANG TRÍ LỌ HOA
A. Mục tiêu:
          - HS hiểu vẻ đẹp về hình dáng và cách trang trí lọ hoa.
          - HS biết cách trang trí lọ hoa.
          - HS vẽ trang trí lọ hoa theo ý thích.
          - HS khá giỏi biết chọn và sắp xếp họa tiết cân đối phù hợp với hình lọ hoa. Tô màu đều, rõ hình trang trí.
B. Đồ dùng dạy học:
- Ba lọ hoa có hình dáng, màu sắc và cách trang trí khác nhau.
- Tranh vẽ và ảnh chụp một số lọ hoa.
- Bài vẽ gợi ý các bước trang trí.
- Bài vẽ của HS năm trước.- Trục quay.- Khung treo bài vẽ của HS.
C. Phần thực hành một số hoạt động có sử dụng ĐDDH và mục tiêu cần đạt:
   Giới thiệu bài: ( Quan sát – đàm thoại gợi mở)
- GV cho HS quan sát lọ hoa thật được đặt trên trục quay để các em được nhìn thấy tất cả các mặt xung quanh của lọ hoa mục đích:
          + HS nhận biết vật được quan sát là một lọ hoa.
          + Lọ hoa đẹp nhờ vào các họa tiết bông hoa và đường diềm ở miệng lọ.  
GV: Cách vẽ các họa tiết lên lọ hoa được gọi là trang trí. Vậy vẽ trang trí như thế nào cho đẹp, các em sẽ biết được diều đó qua bài học hôm nay.
Hoạt động 1:Quan sát- nhận xét  ( HS làm việc cá nhân)
Bước 1:GV cho HS quan sát – nhận xét thêm 2 lọ hoa thật.
          - GV tiếp tục đặt lên trục quay lần lượt 2 lọ hoa thật có hình dáng khác nhau cho HS quan sát và nhận xét  mục đích nêu được:
          + Lọ hoa này có hình dáng thế nào?
          + Hãy nêu cấu trúc chung của lọ hoa?
          + Lọ hoa được trang trí bằng các họa tiết gì?
          + Ở thân lọ hoa được tạo bằng những đường nét nào?
Bước 2: GV giới thiệu thêm một số tranh vẽ và ảnh chụp các lọ hoa.
* Mục đích sử dụng các lọ hoa thật và tranh ảnh để giúp HS nhận biết được:
          + Vẻ đẹp của lọ hoa.
          + Nắm được cấu trúc chung của lọ hoa gồm có : miệng, cổ, thân và đáy.
          + Mỗi lọ hoa đều có các hình dáng, màu sắc và cách tranh trí khác nhau.
          + Có nhiều chất liệu để làm nên lọ hoa như: Gốm, sứ, sơn mài, thủy tinh,..
Hoạt động 2: GV hướng dẫn gợi ý cách trang trí: (HS quan sát)
Bước 1: GV yêu cầu HS nêu lại các bước vẽ lọ hoa.
Bước 2: GV vẽ minh họa và kết hợp nêu lại các bước vẽ lọ hoa.
Bước 3:  Hướng dẫn vẽ trang trí lọ hoa. GV vẽ minh họa từng bước:
          + Dựa vào hình dáng lọ hoa vẽ phát hình mảng.
          + Tìm họa tiết vẽ vào các mảng. Tìm họa tiết cho phù hợp với mảng hình đó.
          + Vẽ màu theo ý thích, có đậm, có nhạt.
Bước 4:
          - Cho HS xem thêm  bài vẽ các bước trang trí lọ hoa với những  họa tiết khác .
          - Xem một số bài vẽ lọ hoa của HS các năm trước.
* Mục đích: Để HS thấy được có nhiều cách trang trí khác nhau, cần lựa chọn họa tiết phù hợp và màu sắc đẹp làm nổi bật được họa tiết trên hình nền của lọ hoa.
Hoạt động 3: HS thực hành vẽ và trang trí lọ hoa.
          -  GV cho HS thực hành vẽ trên vở tập vẽ.
Hoạt động 4: Nhận xét đánh giá:
          -  GV cùng HS chọn một số bài tiêu biểu để nhận xét.( GV gắn bài vẽ của HS vào giá treo ở bảng lớp.
Hoạt động 5:Củng cố :Trò chơi ghép hình .
          - GV chia lớp thành 2 đội chơi và phát cho mỗi đội các mảnh họa tiết rời để các em ghép thành hình một lọ hoa . Mục đích: Củng cố lại các bước vẽ trang trí lọ hoa.
   * Phần nhận xét:
Ưu điểm:
      -  GV đã lựa chọn tranh phù hợp với yêu cầu nội dung bài giảng.
      -  Qua vật thật và tranh, ảnh chụp các lọ hoa với các hình dáng, màu sắc. họa tiết khác nhau đã giúp cho HS cảm nhận được vẻ đẹp của các lọ hoa.
      -   HS rất hào hứng và tập trung học, Đa số HS nắm và thực hành khá tốt theo mục tiêu đề ra.
      -  Đặc biệt là phần trò chơi củng cố, lớp học sôi nổi hẳn lên.
      -  Qua khảo sát 41/41 em đều hoàn thành bài vẽ của mình theo mục tiêu của chuẩn kiến thức kỹ năng trong đó có 15 bài vẽ hoàn thành tốt.. Các em đã chọn vẽ trang trí lọ hoa có kiểu dáng lạ, hình vẽ cân đối . Cách trang trí mới lạ và hài hòa, màu sắc khá đẹp
Hạn chế:
     -  Phân bổ thời gian chưa đảm bảo ( 43 phút ) vì thao tác GV sử dụng đồ dùng dạy học chưa linh hoạt .
                                                         @@@@@
 
LỊCH SỬ LỚP 5
BÀI 26 : TIẾN VÀO DINH ĐỘC LẬP
 A.Đồ dùng dạy học:
     - Bản đồ Việt Nam. Máy casset và băng nhạc bài: “ Tiến vào Sài Gòn”
    -  Bức ảnh : “ Quân giải phóng tiến vào Sài Gòn tháng 4 năm 1975
    -  Mô hình xe tăng và cổng dinh Độc lập làm bằng bìa.
    -  Phiếu học tập. Trang phục: mũ tai bèo, súng làm bằng gỗ ( Đóng vai)
B. Trích các hoạt động lên lớp có sử dụng ĐDDH và mục tiêu cần đạt:
   1/ Bài mới:
a/ Giới thiệu bài: GV mở máy cho HS nghe bài hát: “ Tiến vào Sài Gòn”Mục đích sử dụng  dẫn dắt vào bài mới.
b/ Tìm hiểu bài:
Hoạt động 1:Cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa xuân 1975.
     - GV cho HS quan sát bản đồ Việt Nam  với mục đích: Giới thiệu sơ lược vài nét về một số mốc thời gian, địa điểm diễn ra các cuộc tấn công của quân ta trong chiến dịch mùa xuân 1975 ( Các cuộc tấn công và giải phóng như: Buôn mê Thuộc 10.3, đến Huế, Đà Nẵng ….đến 26 tháng 4 năm 1975 chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh bắt đầu)
Hoạt động 2/ Thảo luận nhóm 4:( Phiếu học tập)
Bước 1:   GV cho HS làm việc với SGK và ghi phần thảo luận trên phiếu học tập với nội dung thảo luận theo các gợi ý:
     + Quân ta đồng loại nổ súng tiến công vào Sài Gòn theo mấy mũi tiến công?
     + Cảnh của quân ta tiến vào Dinh Độc Lập như thế nào?
     + Sự kiện của quân ta tiến vào Dinh Độc Lập thể hiện điều gì?
Bước 2: GV mời đại diện vài nhóm đứng tại chỗ trình bày – nhóm khác nhận xét
Bước 3:    GV cho HS quan sát hình ảnh quân giải phóng tiến vào Sài Gòn tháng 4/1975 ( Bức ảnh: “ Đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất ).
Với mục đích sử dụng : Giáo viên tường thuật lại diễn biến chiến dịch Hồ Chí Minh , giới thiệu 5 cánh quân của ta đồng loạt nổ súng vào các vị trí quan trọng của địch trong thành phố. Trong đó Sân bay Tân Sơn Nhất có vị trí chiến lược rất quan trọng( là nơi chi viện bằng đường không của địch), đánh chiếm được vị trí này ta sẽ chặn được con đường tiếp tế và rút chạy của địch.
          - GV tiếp tục cho HS xem bức ảnh thứ 2: “ Xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập” (mô hình  làm bằng giấy bìa hình ảnh xe tăng 843 và 390)  để tường thuật tiếp:Diễn biến giờ phút tiến vào Dinh Độc Lập của lữ đoàn xe tăng 203.
Bước 4: GV cho một HS lên tường thuật lại sự kiện xe tăng của ta tiến vào dinh Độc Lập qua mô hình.
   * Phần nhận xét: Do được thảo luận và nghe GV kể kết hợp quan sát bằng hình ảnh và mô hình trực quan sinh động nên HS tiếp thu tốt, nhớ và kể lại khá đầy đủ các chi tiết của sự kiện xe tăng ta tiến vào Dinh Độc Lập. Lớp học rất tập trung, sôi nổi.
          Hoạt động 3: Thảo luận - đóng vai  “ Thái độ của Dương Văn Minh và các thành viên chính quyền Sài Gòn khi quân giải phóng đánh chiếm Dinh Độc Lập.”
Bước 1:  Các nhóm xem GSK  thảo luận và phân vai.
Bước 2: Đại diện 1 nhóm lên thể hiện ( sử dụng : nón tai bèo và mô hình súng)
Bước 3: GV phỏng vấn HS đóng vai Dương Văn Minh và hỏi cả lớp câu hỏi : Tại sao Dương Văn Minh buộc phải ra lệnh đầu hàng không điều kiện?
    * Phần nhận xét: Ở hoạt động này GV đã chuyển tải nội dung sự kiện bằng minh họa đóng vai của HS làm cho không khí lớp học thay đổi hẳn các em rất thích và tiếp thu tốt qua sự tái hiện lại các chi tiết lịch sử, do tự các em thể hiện làm cho các em sẽ nhớ lâu kiến thức bài học.
Bước 4: Nêu ý nghĩa lịch sử ( Đàm thoại gợi mở - rút ra ý nghĩa lịch sử ,bài học )
Củng cố:      GV liên hệ giáo dục và kết hợp nêu các câu hỏi:(8 câu hỏi)
          + Ai là người đã cắm cờ đầu tiên khi tiến vào Dinh Độc Lập?
          + Ai là người ra đi tìm đường cứu nước?
           + …..
+Cả lớp hát bài : “ Như có Bác trong ngày vui đại thắng”.
* Phần nhận xét:
Ưu điểm: Qua sự truyền tải kiến thức một cách sinh động cụ thể dựa vào hình ảnh, mô hình và đặc biệt là sự thể hiện đóng vai của HS làm cho tiết học sôi nổi hẳn lên, với cách dạy này đã tạo hứng thú cho HS làm cho HS nắm và nhớ được kiến thức ngay tại lớp. GV đã chuẩn bị rất kỹ và có sáng tạo trong sử dụng mô hình xe tăng  để kể chuyện, qua hình thức này đã lôi cuốn được sự tập trung, chú ý của HS và điều quan trọng là các em dễ tiếp thu và nhớ kiến thức.
 Khảo sát 40 hs có : 28 bài đạt điểm khá, giỏi
                                10 bài đạt điểm trung bình
                                2 bài đạt điểm 4
Hạn chế: Hệ thống câu hỏi củng cố tương đối nhiều. Cần chú ý hơn đến kiểm tra kết quả thảo luận nhóm ở hoạt động 2
 
IV. KẾT QUẢ, HIỆU QUẢ MANG LẠI:
Trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng những giải pháp của sáng kiến kinh nghiệm vào thực tiễn ở đơn vị trường tiểu học Thị Trấn trong hơn 3 năm học qua đã có những chuyến biến tích cực  như sau :
1. Về ưu điểm:
1.1. Đối với tổ chuyên môn:
 Với bản thân làm công tác quản lý chuyên môn tôi nhận thấy sau khi áp dụng SKKN này vào đơn vị trường thì hoạt động dạy và học đã có hướng chuyển biến tích cực hơn, cụ thể:
          - Qua sự chỉ đạo và thường xuyên động viên, đôn đúc, kiểm tra kịp thời của ban giám hiệu và các tổ trưởng chuyên môn thì trong các đợt kiểm tra, thăm lớp, dự giờ định kỳ hay đột xuất cho thấy:
+ Năm 2009-2010 có trên  90 %  GV đều có sử dụng ĐDDH khi lên lớp.
+ Năm 2010-2011 tăng lên trên 95 % GV đều có sử dụng ĐDDH khi lên lớp.
          - Trong các tiết GV – HS có sử dụng thiết bị dạy - học tôi nhận thấy GV đã biết phối hợp điệu bộ, cử chỉ, lời nói nhịp nhàng với thao tác sử dụng ĐDDH  có hiệu quả.
- Biết xây dựng kế hoạch bài dạy phù hợp với hoạt động có sử dụng ĐDDH
- Phân bổ thời gian khá hợp lý, giờ học nhẹ nhàng, sinh động. Đa số các em rất thích được học các giờ học có sử dụng ĐDDH. Chất lượng học tập của HS trong các giờ học có sử dụng ĐDDH cao hơn các giờ không sử dụng ĐDDH. Việc áp dụng SKKN này vào đơn vị bước đầu có khởi sắc.     
1.2. Đối với giáo viên :           
-  Giáo viên sử dụng thiết bị dạy học tối thiểu đạt 95-100 % và có hiệu quả.
-  Giáo viên đã có ý thức, tự giác hơn trong việc sử dụng ĐDDH khi lên lớp
          -  Việc mượn và sử dụng ĐDDH không còn là hình thức đối phó.
          -  Mỗi GV đã làm thêm được từ 2 đến 3 ĐDDH với những nguyên vật liệu dễ tìm, rẻ tiền và được sử dụng chung cho cả khối
          -  Thao tác khai thác và sử dụng ĐDDH linh hoạt và hiệu quả hơn trước.
         Qua những minh chứng cụ thể bằng những tiết dạy có sử dụng ĐDDH hàng ngày và qua các hội thi GV giỏi các cấp cho thấy được ĐDDH đóng vài trò quan trọng cho sự thành công của tiết dạy-học.
        - Kết quả qua ba năm gần đây số giáo viên được công nhận giáo viên dạy giỏi các cấp cụ thể như sau:
          * Năm học 2009 – 2010 :
         + Cấp trường : Có 5/6 GV tham gia và đạt GVG.
         + Cấp huyện :  Có 5/5 GV tham gia và đạt GVG.
         + Cấp tỉnh:      Có 1/ 1 GV tham gia và đạt GVG.
- Xếp loại tay nghề cuối năm: Giỏi: 45% ,    Khá: 40 % ,     TB: 15 %
* Năm học 2010 - 2011
         + Cấp trường:  Có 14/ 18 GV tham gia và đạt GVG.
         + Cấp huyện : Có   3 / 3  GV tham gia và đạt GVG.
         -  Xếp loại tay nghề cuối năm: Giỏi: 50% ;     Khá: 40,9% ,   TB: 9,1%
          *Học kỳ I của năm học 2011 – 2012:
         + Cấp trường : Có 14/17 GV tham gia và đạt GVG.
         + Cấp huyện :  Có  5/  5 GV  tham gia và đạt GVG.
         + Cấp tỉnh:      Có   2 /2 GV   tham gia và đạt GVG
          1.3 Đối với học sinh:
          -  Các tiết dạy có sử dụng ĐDDH tạo cho giờ học trở nên sinh động hơn.
          -  Học sinh tập trung học tập hơn.
          -  Các em không còn ngồi học thụ động, làm việc riêng hay nói chuyện.
          -  Đa số HS đều được tham gia vào các hoạt động học tập dưới mọi hình thức.
          -  Học sinh tích cực phát biểu xây dựng bài,  tiếp thu bài nhanh hơn.
          -  Tạo được sự tự tin và mạnh dạn cho HS.
          - Kết qủa thống kê khảo sát cụ thể:
+ Năm học 2009-2010 : Qua 4 tiết dạy thực nhiệm của 4 lớp, với 166 em cho thấy số học sinh đạt điểm trên trung bình chiếm  98,2 % trong đó số học sinh đạt điểm khá giỏi là 117 em chiếm 70,5 % .
+ Năm học 2010-2011: Qua 5 tiết dạy thi trong hội thi giáo viên dạy giỏi cấp trường cho thấy HS đạt điểm trên trung bình 100 % trong đó HS đạt điểm khá giỏi là 167 em chiếm 83,5%
- Chất lượng và tinh thần học tập của HS có nâng cao rõ rệt.
  Qua trò chuyện với HS sau tiết học được biết: “Các em rất hào hứng và thích học các tiết học có sử dụng đồ dùng dạy-học.”. Thế mới biết đối với HS tiểu học thì việc dạy học có sử dụng ĐDDH là quan trọng biết chừng nào. Tôi cũng cảm thấy rất vui vì một số giải pháp của tôi đã đem đến cho trẻ niềm vui khi đến trường, tạo cho các em được vui chơi trong học tập. Thiết nghĩ mỗi GV chúng ta cần cố gắng hớn nữa để hình thức học tập, phương pháp giảng dạy cũng như chất lượng giáo dục ngày càng một đi lên theo sự phát triển của đất nước.
2. Một số hạn chế sau khi thực hiện giải pháp:
          - Năm 2009-2010:
          + Vì trong tiết học có sử dụng hình thức hoạt động nhóm và trò chơi, với tuổi nhỏ như các em việc hơi ồn ào và mất trật tự là không tránh khỏi( nhất là HS lớp 1,2 và 3) vì khi thảo luận nhóm các em tranh nhau nói, dành viết, thảo luận rất to hay khi nghe GV cho chọn vài HS đại diện nhóm lên chơi thì em nào cũng muốn dành chơi
*Biện pháp khắc phục (tiếp theo): GV cũng cần chú ý hình thành ý thức, nề nếp trong học tập cho các em. Cần hướng dẫn và yêu cầu HS thảo luận hoặc tham gia chơi trò chơi không quá to tiếng và khi tổ chức cho HS chơi trò chơi cần cho HS được luân phiên tham gia chơi (ở mỗi tiết học khác nhau) để các em đều được thể hiện mình. Cần chọn những trò chơi có số lượng HS tham gia nhiều song hình thức chơi phải phù hợp tránh nhiều quá lộn xộn và ồn ào.
       +  Còn một vài GV sử dụng ĐDDH chưa linh hoạt, thao tác còn chậm.
       +  Hình thức và nội dung cách chơi các trò chơi còn chưa phong phú.
       +  Do chưa áp dụng được công nghệ thông tin vào giảng dạy nên việc sưu tầm và thực hiện làm thiết bị, đồ dùng dạy học còn gặp nhiều khó khăn, tương đối tốn kém và chưa phát huy hết năng lực, sở trường của GV, chưa theo kịp với sự phát triển chung của đất nước.
          - Năm 2010-2011 và học kỳ I năm học 2011-2012 nhận thấy những hạn chế nêu trên có phần được khắc phục cụ thể:
+ Hình thức hoạt động nhóm và trò chơi: GV đã hình thành được ý thức, nề nếp trong học tập cho các em, biết tạo cho các em có thói quen giữ nề nếp trong học tập như thảo luận hoặc tham gia chơi trò chơi không quá to tiếng và ồn ào.
          + Khi tổ chức cho HS chơi trò chơi,  GV đã cho HS được luân phiên nhau tham gia chơi (ở mỗi tiết học khác nhau)
          + Một số GV đã sử dụng trò chơi cho các lớp hoạt động có số lượng HS tham gia nhiều, hình thức chơi tương đối phù hợp song vẫn đảm bảo thời gian.
          + Số GV sử dụng ĐDDH chưa linh hoạt, thao tác còn chậm đã giảm
          + Đã có 2 GV sử dụng giáo án điện tử trong giảng dạy nên việc sưu tầm tranh ảnh và tư liệu khá phong phú và hợp lý.
 
V. ĐÁNH GIÁ VỀ PHẠM VI ẢNH HƯỞNG SÁNG KIẾN:
Sáng kiến đã được phổ biến, ứng dụng có hiệu quả trong phạm vi toàn trường tiểu học Thị Trấn Đầm Dơi ( từ khối 1 đến khối 5). Tôi mong rằng SKKN này sẽ đươc các bạn đồng nghiệp trong toàn Huyện và Tỉnh tham khảo, trao đổi, đóng góp và vận dụng trong thực tế giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
VI. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT:
- Đối với Phòng giáo dục:
Đề nghị PGD&ĐT trang bị ngày càng đầy đủ hơn cho trường các phương tiện nghe, nhìn, máy chiếu và đồ dùng dạy học theo qui định tối thiểu nhằm đáp ứng với nhu cầu đổi mới nội dung và phương pháp dạy học.
- Đối với trường:
Cần động viên, khích lệ, khen thưởng kịp thời đối với những cá nhân, tập thể giáo viên có ĐDDH tự làm đạt chất lượng và sử dụng có hiệu quả trong giờ dạy.
- Đối với giáo viên:
 Khi làm ĐDDH cần có tính bền, đẹp, sử dụng lâu dài. Sử dụng đồ dùng dạy học phải đúng lúc, đúng chỗ mang tính hiệu quả. Tránh tình trạng làm đồ dùng dạy học chỉ để trưng bày hoặc sử dụng một cách hình thức. Đồng thời cũng tránh tình trạng lạm dụng đồ dùng dạy học, sử dụng một cách tràn lan, không hiệu quả.
 
Để nâng cao được chất lượng giáo dục thì ĐDDH đóng một vai trò khá quan trọng trong hoạt động dạy - học. Đồ dùng dạy - học được ví gần như là một người bạn đồng hành không thể tách rời với hoạt động dạy-học. Nó góp phần không nhỏ cho sự thành công vào giờ giảng trên lớp của GV và là chìa khóa mở ra tri thức cho HS và giúp các em phát triển năng lực, trí tuệ của mình. Song Nó chỉ thành công khi cả giáo viên và học sinh biết cách sử dụng và khai thác Nó, mà trong đó người đóng vai trò đầu tiên quyết định cho sự thành công này không ai khác chính là giáo viên.
           Qua đề tài này tôi mong muốn những vấn đề được đề cập tới sẽ góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy ở trường tiểu học Thị trấn ngày càng một đi lên.
Trên  đây là một số kinh nghiệm của bản thân, rất mong được sự góp ý của các cấp lãnh đạo cũng như các đồng nghiệp để SKKN hoàn thiện hơn nhằm được ứng dụng rộng rãi trong các trường tiểu học, góp phần đưa chất lượng giáo dục Tỉnh nhà ngày càng khởi sắc.
 
           Xin chân thành cám ơn!
 
         Ý kiến xác nhận                                      Đầm Dơi, ngày 30 tháng12 năm 2011
     của thủ trưởng đơn vị                                                   Người báo cáo
 
                                                                                                   Trần Thị Quỳnh Dao


“TẬP LUYỆN THỂ THAO CHO HỌC SINH TIỂU HỌC”
 
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Lúc sinh thời Bác Hồ đã chỉ rõ quá trình thực hiện mục tiêu cơ bản của thể dục thể thao cách mạng cũng là quá trình phấn đấu thực hiện "Dân cường nước thịnh". Mỗi người rèn luyện sức khoẻ trong phong trào thể dục thể thao cách mạng là một biểu hiện của lòng yêu nước. Bác nêu rõ: "Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước". Thể dục thể thao cách mạng phát triển trước hết và mạnh nhất trong thanh thiếu niên, sinh viên, học sinh, tự vệ và bộ đội. Bác Hồ căn dặn tuổi trẻ phải siêng năng tập luyện thể dục thể thao, nâng cao sức khoẻ để học tập, rèn luyện tốt. Người nhắc nhở học sinh phải học giỏi không chỉ các môn văn hóa, ngoại ngữ mà cả thể dục.
Thể dục thể thao là một bộ phận của nền văn hoá thể chất, là sự tổng hợp những thành tựu của phát triển xã hội, sử dụng những biện pháp chuyên môn để điều khiển sự phát triển thể chất của con người một cách có chủ định, nhằm nâng cao năng lực thể chất, kéo dài tuổi thọ.
Giáo dục thể chất là một hình thức giáo dục chuyên biệt, cùng với các hoạt động khác (đạo đức, giáo dục thẩm mỹ,…) góp phần giáo dục thế hệ trẻ thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông. Giáo dục thể chất trong nhà trường còn góp phần bồi dưỡng nhân tài thể dục thể thao.
Đối với học sinh Tiểu học thường xuyên hoạt động thể dục thể thao, khả năng trao đổi chất được tăng cường góp phần tích cực nâng cao sức khoẻ, giúp cho cơ thể phát triển tự nhiên, các tố chất vận động được nâng cao, dẫn đến cơ năng và cấu trúc hình thái của hệ thống các cơ quan có sự thay đổi đến việc nâng cao thể chất.
Tham gia tập luyện thể dục thể thao ở lứa tuổi học sinh Tiểu học, có ảnh hưởng và tác dụng quan trọng, vì luyện tập một cách có hệ thống và hợp lý sẽ có tác dụng đến sự phát triển tự nhiên cơ thể học sinh. Tổ chức cho học sinh vận động là nhằm làm cho thế hệ trẻ phát triển cân đối, sức khoẻ được tăng cường góp phần hoàn thiện về thể chất, phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ. Do vậy việc tập luyện thể dục thể thao thường xuyên đối với học sinh Tiểu học giữ vai trò quan trọng cho việc giáo dục toàn diện. Thể dục thể thao là một biện pháp tích cực, tác động nhiều tới sức khoẻ học sinh, nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, làm cơ sở cho học sinh tập luyện thân thể, bồi dưỡng đạo đức, tác phong con người mới.
Hiện nay hàng năm Phòng Giáo dục – Đào tạo huyện kết hợp với Phòng Văn hoá – Thông tin – Thể dục Thể thao huyện tổ chức giải thể thao cho học sinh Tiểu học gồm các môn như: Điền kinh, Bóng đá mini nam,... Thực tế cho thấy phong trào thể dục thể thao phát triển đã kéo theo chất lượng vận động viên tham gia cũng được nâng lên qua hàng năm, giúp học sinh hứng thú hơn trong học tập, phát triển hoàn thiện hơn về thể chất cũng như trí tuệ qua mỗi lần được tập luyện và tham gia thi đấu. Nhưng do sự nhìn nhận chưa đúng về mặt mạnh, tác dụng tốt của thể dục thể thao đối với lứa tuổi học sinh Tiểu học cùng với một số điều kiện khách quan sở tại đã phần nào gây khó khăn cho cho công tác tập trung tập luyện thể thao cho học sinh ở các trường Tiểu học trong toàn huyện nói chung và trường Tiểu học Thị trấn nói riêng. Cụ thể là:
- Phần lớn phụ huynh học sinh ở trường rất ủng hộ các phong trào thể dục thể thao, thường xuyên quan tâm theo dõi sự tập luyện của con em mình, nhiệt tình đến ủng hộ con em mình thi đấu và thấy hảnh diện. Nhưng một ít phụ huynh học sinh chỉ tập trung đầu tư cho việc phát triển kinh tế gia đình, chăm lo đầy đủ cái ăn, cái mặc cho con em mình là đủ hoặc không biết được tầm quan trọng của việc tập luyện thể dục thể thao sẽ góp phần giáo dục thể chất phát triển trí tuệ của các em nên còn ngăn cản các em tham gia tập luyện các môn thể thao ở trường để tham gia phong trào với những lý do khác. Mặc dù các em học sinh đó có khả năng tập luyện và chơi tốt các môn thể thao đó.
- Ở trường học sinh đã được tổ chức học tập tốt tất cả các môn học của cấp Tiểu học, nhưng do đặc thù riêng của môn thể dục, vả lại giáo viên Tiểu học chưa được đào tạo chuyên nên giáo viên chủ nhiệm phải phụ trách nhiều môn. Từ đó việc dựa vào kết quả môn thể dục chọn ra học sinh cung cấp cho đội thể thao của trường là còn gặp khó vì mỗi em đều có sở trường và môn thể thao yêu thích riêng.
- Trong tham gia thi đấu một số đơn vị vẫn còn nặng về thành tích, dẫn đến có những em VĐV nằm ngoài tuổi quy định hoặc bổ sung đột suất mà không có trong danh sách đăng ký ban đầu cho Ban tổ chức.
Từ những thực tiễn trên cùng với lòng yêu mến thế hệ trẻ - thế hệ tương lai, tôi muốn các em luôn phát triển một cách toàn diện để đủ khả năng trở thành chủ nhân tương lai của đất nước. Là một giáo viên phụ trách công tác đoàn đội, nhưng tôi lại không có sở trường về thể thao, ít hiểu biết về thể thao, đã nhiều lần được phân công dẫn đoàn thể thao trường tham gia thi đấu cấp huyện và trong nhiều năm qua tôi được sự tín nhiệm của Lãnh đạo nhà trường, Ban chấp hành Công đoàn trường phân công phụ trách kiêm nhiệm công tác tập luyện thể thao cho các em tham gia phong trào do ngành Giáo dục huyện nhà tổ chức hàng năm. Mặc dù trong những năm qua tôi phụ trách hướng dẫn, dẫn dắt học sinh tham gia thể thao phong trào chưa đạt được những kết quả cao nhất, nhưng thông qua bài viết này, tôi muốn chia sẽ cùng quý đồng nghiệp những kinh nghiệm: “Tập luyện thể thao cho học sinh Tiểu học” mà tôi đã được trải nghiệm.
II. NỘI DUNG CỤ THỂ
Để lựa chọn ra khoảng hai mươi em học sinh trong tổng số hơn một nghìn em học sinh của toàn trường biết yêu thể thao, thích tập thể thao và có bản chất cơ bản về các môn thể thao là việc làm khó và lâu dài. Việc tập luyện cho những học sinh đó trở thành những vận động viên của từng môn thể thao, tham gia phong trào là một vấn đề càng khó và càng lâu dài hơn. Do vậy cần phải có kế hoạch cho việc làm cụ thể thì mới mong đạt được kết quả. Ở bài này, tôi xin được đề cập đến vài kinh nghiệm sau:
1. Chi bộ đảng:
Trong nhà trường Chi bộ Đảng là Lãnh đạo cao nhất, vậy khi Ban chấp hành Công đoàn cùng Lãnh đạo nhà trường thống nhất sự phối hợp hoạt động thì tiến hành trình Chi bộ Đảng kế hoạch cụ thể, để Chi bộ Đảng nắm được diễn biến của kế hoạch hoạt động và có ý kiến chỉ đạo khi cần thiết.
2. Ban chấp hành Công đoàn:
Tổ chức Công đoàn là một tổ chức không thể thiếu ở mỗi cơ quan, đơn vị. Vào đầu năm học mới, sau khi đã ổn định đi vào hoạt động Ban chấp hành Công đoàn trường tổ chức họp kiện toàn lại bộ máy hoạt động (đối với Ban chấp hành cũ). Nếu là Ban chấp hành mới thì họp phân công công việc phụ trách cụ thể cho từng thành viên trong Ban chấp hành, trong đó phải có người phụ trách phong trào thể dục thể thao của trường, lập kế hoạch cho từng thời điểm diễn ra các phong trào thể dục thể thao trong năm học, cùng Ban chi uỷ, Ban chấp hành phối hợp cùng Lãnh đạo nhà trường thực hiện kế hoạch đề ra và hỗ trợ kinh phí.
3. Phối hợp với Ban đại diện Cha mẹ học sinh của trường:
- Ban đại diện Cha Mẹ học sinh: Là những Anh, Chị, Cô, Chú, Bác, được quý phụ huynh của toàn trường tín nhiệm bầu ra để quan tâm, chăm lo cho hoạt động học tập của học sinh và các phong trào của nhà trường, nhằm kích thích sự phát triển toàn diện của học sinh và của nhà trường. Vì vậy, cần phối hợp hoạt động này với Cha Mẹ học sinh một cách triệt để, nhằm nhận được sự hỗ trợ tích cực từ phía phụ huynh.
- Phụ huynh học sinh: Là người rất chăm lo cho con mình từng mặt, đặc biệt là những mặt có lợi ích đến sự phát triển tốt cho con của họ. Vậy chúng ta cần có cuộc gặp mặt trực tiếp với họ, phân tích cho họ biết những mặt mạnh của con họ trong môn thể thao thích hợp và những lợi ích sau khi tham gia tập luyện và thi đấu môn thể thao đó, để nhận được sự chấp thuận cho con họ tham gia quá trình tập luyện, thi đấu và hơn nữa họ sẽ là cổ động viên nhiệt thành nhất.
4. Tổng phụ trách Đội – Giáo viên chủ nhiệm:
Cán bộ Tổng phụ trách Đội và giáo viên chủ nhiệm là những người rất gần gũi với các em học sinh, lời nói của họ có sức ảnh hưởng rất lớn đến học sinh.
- Tổng phụ trách Đội có những buổi sinh hoạt ngoại khoá, tổ chức trò chơi dân gian vui vẻ cùng học sinh, những buổi chào cờ nhận xét việc học tập của các em sau một tuần học. Do đó, lựa chọn đúng chủ đề để trò chuyện với các em trong lúc sinh hoạt sẽ giúp các em có ý thức tham gia tập luyện thể thao với sự nhiệt tình hơn.
- Giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp dạy cho các em nhiều môn học khác nhau. Qua mỗi môn học khác nhau đó giáo viên có nhiều cơ hội giáo dục cho các em toàn diện hơn như: Giáo dục thể chất qua môn thể dục, giáo dục thẩm mỹ qua môn mỹ thuật, giáo dục nhân cách qua môn đạo đức,… giúp cho các em khi tham gia tập luyện và thi đấu thể thao đựơc tốt hơn về nhiều mặt và trở thành VĐV hoàn hảo hơn ở sân chơi thể thao. Giáo viên chủ nhiệm còn góp phần giới thiệu nhân sự cho người phụ trách thể thao của trường lựa chọn.
5. Cán bộ Thiết bị - Thư viện:
- Cán bộ phụ trách Thiết bị: Quản lý thiết bị của toàn trường, trong đó có thiết bị của môn thể dục. Thiết bị môn thể dục cũng hỗ trợ rất nhiều cho các bài tập trong các môn thể thao. Vì vậy, sự hỗ trợ của cán bộ phụ trách thiết bị sẽ giúp cho việc tập luyện tập các môn thể thao có kết quả hơn.
- Cán bộ phụ trách Thư viện: Quản lý kho chứa kiến thức văn hoá của trường, thông qua cán bộ phụ trách thư viện trong những thời gian hợp lý có sắp xếp, sẽ giúp cho các em đọc được những kiến thức về thể dục thể thao và các tấm gương về thể thao để noi theo.Các em sẽ tăng thêm về tinh thần thể thao lành mạnh trong tập luyện và thi đấu, trách được những đáng tiếc không cần thiết xảy ra.
6. Người hướng dẫn tập luyện thể thao cho học sinh (HLV):
Chuẩn bị:
- Khi được phân công phụ trách luyện tập thể thao cho học sinh, người hướng dẫn (HLV) phải lên kế hoạch cụ thể cho cả năm trình lên Ban chi uỷ, Ban chấp hành Công đoàn để được xác nhận chấp thuận kế hoạch.
- Khi kế hoạch được chấp thuận, HLV tiến hành liên hệ với tổ trưởng và giáo viên chủ nhiệm các lớp 3, 4, 5 (lớp 1; 2 còn nhỏ) để nắm được những học sinh có năng khiếu về thể thao.
- Lập tờ trình gửi Ban chấp hành Công đoàn, Lãnh đạo nhà trường xin tuyển 22 vận động viên để luyện tập thể thao tham gia phong trào với điều kiện học lực đạt từ trung bình tở lên, hạnh kiểm đạt từ khá trở lên, cụ thể số lượng cho các môn thể thao là:
+ Bóng ném: 02 VĐV (01 nam, 01 nữ).
+ Kéo co: 08 VĐV (04 nam, 04 nữ).
+ Bóng đá mini (5+5): 12 VĐV (12 nam).
* Lưu ý: Nên chọn thêm vài em học sinh có triển vọng ở lớp 3 và 4 để duy trì tính kế thừa cho năm sau.
- Khi đã chọn VĐV xong kết hợp với Ban đại diện Cha Mẹ học sinh của trường, gặp trực tiếp phụ huynh của 22 em để trao đổi xin cho các em tham gia tập luyện và thi đấu.
Trong tập luyện:
- Lên kế hoạch tập luyện: Mỗi tuần 02 buổi vào các ngày thứ bảy và chủ nhật, khi gần đến ngày thi đấu sẽ nâng mức tập luyện lên 03 buổi/tuần. Trước 01 ngày tham gia thi đấu cho tập trung dặn dò, khởi động nhẹ rồi nghỉ dưỡng sức, có như thế mới đảm bảo cho ngày hôm sau có đủ sức khoẻ.
- Trước khi tập luyện về chuyên môn, cần phải dạy cho học sinh biết cơ bản về đạo đức và phong cách của một VĐV thể thao.
- Tạo sự đoàn kết thống nhất cho tất cả các em, coi nhau như anh em trong một nhà. HLV phải tạo được niềm tin và là chỗ dựa tinh thần cho các em. Từ đó ràng buộc các em phải tuân thủ giờ giấc tập luyện và tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của HLV.
- Tiến hành hướng dẫn các em tập luyện chuyên môn theo mức độ tăng dần, động tác dễ đến khó dần và một số kỹ thuật, chiến thuật cho từng em, từng môn thể thao. Cứ duy trì tập luyện thường xuyên cho đến lúc tham gia thi đấu.
Trong tham gia thi đấu:
Nên làm:
- Động viên các em luôn ổn định tinh thần, tự tin, thi đấu hết mình để đạt kết quả cao nhất có thể.
- Trong lúc các em có những sai sót trong thi đấu thì nhắc nhỡ cho các em chỉnh sửa lại cho đúng với những gì đã được hướng dẫn tập luyện.
- Chỉ có HLV mới là người đứng ra chỉ đạo, nhắc nhỡ các em thi đấu, vì HLV là người trực tiếp hướng dẫn các em và là niềm tin của các em.
Nên tránh:
- Không nên cùng lúc có nhiều người chỉ đạo, nhắc nhỡ vì thế các em không biết sẽ nghe ai và thi đấu như thế nào cho đúng, các em sẽ thiếu đi sự tập trung.
- Không la, mắng thậm tệ học sinh khi các em có sự sai sót dù nhỏ hay lớn, sẽ ảnh hưởng đến tâm lý thi đấu của các em.
- Không nên đặt nặng thành tích quá mà có những việc thiếu trung thực xảy ra trong thể thao. Như vậy sẽ làm mờ đi sự trong sáng, hồn nhiên của tuổi trẻ trong thể thao.
III. KẾT QUẢ CỤ THỂ VỀ THÀNH TÍCH THAM GIA THỂ THAO.
Trường Tiểu học Thị trấn đều tham gia thể thao do ngành Giáo dục – Đào tạo tổ chức.
Đạt được kết quả là do sự phấn đấu hết mình của các em học sinh, sự ủng hộ của quý phụ huynh, sự phối hợp hài hoà giữa các bộ phận, đoàn thể trong nhà trường và đặc biệt là sự lãnh chỉ đạo của Ban chấp hành Công đoàn trường, Lãnh đạo nhà trường. Tuy nhiên việc thực hiện được là cả một quá trình dài nhưng phải thực hiện một cách liên tục và thường xuyên mới có được.
IV. KẾT LUẬN
Nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và đào tạo toàn diện cho học sinh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đó là: “Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho xã hội”.
Từ đó việc giáo dục thể chất, luyện tập thể dục thể thao cho học sinh ở nhà trường Tiểu học là một việc làm hết sức cấp bách và cần thiết. Hướng dẫn cho học sinh Tiểu học tập luyện thể dục thể thao đúng và phù hợp sẽ góp phần tạo ra những con người toàn diện. Bởi vậy, người cán bộ giáo viên dù ở vị trí nào phải có nhận thức đúng đắn về vai trò, nhiệm vụ của công tác giáo dục toàn diện cho học sinh. Trên cơ sở đó phối kết hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường cùng tham gia vào công tác giáo dục thể chât cho học sinh là làm theo mục tiêu của Đảng và Nhà nước.
Nhiệm vụ giáo dục thể chất, giáo dục toàn diện thông qua thông qua việc giảng dạy môn Thể dục, Mỹ thuật, đạo đức,… trong trường Tiểu học có vị trí không kém phần quan trọng bởi thông qua bài học hình thành cho các em những phẩm chất tốt đẹp. Từ đó tạo cho các em có bản lĩnh hơn trong thời đại mới.
1. Bài học kinh nghiệm:
- Mỗi cán bộ giáo viên luôn phải thấm nhuần được tầm quan trọng của việc tập luyện thể dục thể thao, sẽ góp phần phát triển toàn diện cho học sinh ngay ở bậc Tiểu học.
- Muốn làm tốt việc tập luyện thể thao để tăng cường sức khoẻ cho học sinh  cần phải kết hợp chặt chẽ với lực lượng cả trong và ngoài nhà trường mới đem lại kết quả tốt.
- Hãy để học sinh được chơi thể thao với tinh thần thoải mái, vô tư nhất mới mang lại hiệu quả cao cho sức khoẻ và trí tuệ, giúp các em phát triển toàn diện hơn.
          - HLV phải là người yêu thể thao với tinh thần cao thượng, phải thật quý mến học sinh và có kiến thức về thể dục thể thao.
2. Những tồn tại:
Bên cạnh những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện vẫn còn những tồn tại cụ thể như:
- Do hiện tại ở trường chưa có giáo viên chuyên thể dục nên việc giảng dạy cũng như tập luyện thể thao cho các em còn phần hạn chế, chưa khai thác hết được đặc thù và tầm quan trọng của thể dục thể thao đối với học sinh tiểu học. Từ đó, kết quả đạt chưa cao, chưa đều giữa các môn tham gia thi đấu.
- Không có sân để tập luyện cho các em, chỉ tranh thủ tập ở ngày thứ bảy và chủ nhật ở sân trường, nhưng sân lại quá hẹp.
3. Những đề xuất, kiến nghị:
Qua quá trình nghiên cứu, áp dụng những kinh nghiệm “Về việc luyện tập thể thao cho học sinh tham cấp Tiểu học” ở nhà trường Tiểu học, tôi xin có những đề xuất, kiến nghị sau:
- Các cấp lãnh đạo tạo điều kiện cho trường Tiểu học Thị trấn ổn định về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, sách tham khảo về thể dục thể thao.
- Duy trì thường xuyên giải thể thao hàng năm để học sinh có được sân chơi bổ ích.
                                                                   Đầm Dơi, ngày 18 tháng 3 năm 2013
                                                                              NGƯỜI THỰC HIỆN
                                                                                      Vũ Hồng Hà



Tác giả bài viết: Nguyễn Tiến Dũng
Từ khóa:

n/a

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 11 trong 4 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Danh Bạ Điện Thoại Giáo Viên

Danh Bạ Điện Thoại Giáo Viên Trường Tiểu Học Thị Trấn Đầm Dơi
Nguyễn Tiến Dũng-HT 0919.626.256
Trần T.Quỳnh Dao-PHT 0916.419593
Trần Út Đẹp-PHT 0919.466.694
Vũ Hồng Hà-TPTĐ 0919.115.159
Chung Thị Út-KT 0977.588.559
Tạ Thúy Hằng-VP 01256760707
Dương Thanh Nhàn-TV 0916.237.913
Lê Hồng Tuấn-TB 0913.147.829
Lê Minh Cảnh-YT 01274534499
Lâm Mộng Tuyền-MT 0902.660.804
Lê Tuấn Anh-MT 01275867664
Đỗ Mai Anh-AN 0949.622.922
Đặng Yến Linh-AN 01268865869
Nguyễn Lê Chí-TD 0939.771.000
Nguyễn T Minh Ngọc 0948.749.039
Tăng Kim Giàu-GV 0945.219.984
Nguyễn Bạch Vân-GV 0906.345.945
Nguyễn Kim Khuyến 0916.748.511
Vũ Thị Nho-GV 0913.699.657
Nguyễn T.Ngọc Tươi 0918.218.129
Phạm T Kim Hoa-GV 0947.660.239
Nguyễn Thúy Hạnh 010215296952
Trần Hồng Ta-GV 0916.910.151
Lê Thanh Thoãng-GV 0919.326.007
Tạ Kim Liên-GV 010269586444
Huỳnh Ngọc Vui-GV 0918.599.393
Đinh T Thu Hương 01215296940
Trần Hồng Phương 01259097066
Mai Thị Vân-GV 0945.637.107
Lê Thị Nguyên-GV 0939.424.159
Phạm Văn Tiến-GV 0919.137.906
Ngô Thị Nguyễn-GV 01238335419
Trịnh Mỹ Hiếu 01232532499
Trần Hồng Nhiên-GV 0915.994.033
Diệp Thanh Hải-GV 01272929722
Trần T Thúy Hằng-GV 01298686525
Tống Thu Luân-GV 01636791549
Nguyễn Thị Hồng-GV 01689648856
Cao Thị Hương-GV 01234600615
Lê Thị Na-GV 01238409599
Lê Thị Vân-GV 01259857448
Lê Minh Bôm-GV 0918628722
Võ Kiều Thu-GV 0943.558.395
Trần Bích Nụ-GV 0984.985.356
Lê Dũng Sỹ-GV 0918.647.020
Lê T Diệu Thạnh-GV 0916411232
Hứa Thị Ngoan-GV 0918.861.875
Trần Thị Liễu-GV 0988.851.044
Nguyễn Chúc Linh-GV 01254888391
Trần Minh Tiên-GV 0919.740.955
Ngọc Thị Yến-GV 0984.985.107
Thái Thị Hồng-GV 0939.039.916
Nguyễn Văn Thời-GV 01249309326
Hồng Tuyết Sương 0948.648.854
Nguyễn Văn Đỏ-BV 01295220245
Lê Bé Tư-BV 01232532532

  • Đang truy cập: 1
  • Hôm nay: 8
  • Tháng hiện tại: 5839
  • Tổng lượt truy cập: 180056